Dịch vụ viết luận văn tài chính - ngân hàng - kế toán

Dịch vụ viết luận văn tài chính - ngân hàng - kế toán

Tổng quan về chứng khoán

Trong bài viết này, luanvantaichinh.net xin chia sẻ đến bạn những lý thuyết cơ bản nhất về chứng khoán.

Tổng quan về chứng khoán

>>> Xem thêm: Lý luận chung về chi phí vốn trong doanh nghiệp

1. Khái niệm và đặc điểm của chứng khoán

Chứng khoán được coi là những giấy tờ có giá và có khả năng chuyển nhượng, xác định số vốn đầu tư (tư bản đầu tư);chứng khoán xác nhận quyền sở hữu hoặc quyền đòi nợ hợp pháp, bao gồm các điều kiện về thu nhập và tài sản trong một thời hạn nào đó.

Thuật ngữ “giấy tờ có giá” có nghĩa rộng hơn là thuật ngữ “chứng khoán”. Theo Luật chứng khoán được áp dụng từ ngày 01 tháng 01 năm 2007 của Việt Nam, chứng khoán được định nghĩa như sau: “Chứng khoán là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận các quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát hành”.

Chứng khoán là một tài sản tài chính và nó có các đặc điểm sau:

Tính thanh khoản: Tính thanh khoản của tài sản là khả năng chuyển tài sản đó thành tiền mặt. Khả năng này cao hay thấp phụ thuộc vào cung cầu vốn; thời gian, chi phí cần thiết cho việc chuyển đổi.

Tính rủi ro: Chứng khoán là tài sản tài chính mà giá trị của nó chịu tác động lớn của rủi ro, bao gồm rủi ro có hệ thống và rủi ro không có hệ thống. Rủi ro có hệ thống hay rủi ro thị trường là loại rủi ro tác động tới toàn bộ hoặc hầu hết các tài sản. Loại rủi ro này chịu tác động của các điều kiện kinh tế chung của nền kinh tế như: lạm phát, sự thay đổi tỷ giá hối đoái, lãi suất... Rủi ro không có hệ thống là loại rủi ro chỉ tác động đến một tài sản hay một nhóm nhỏ các tài sản. Loại rủi ro này thường liên quan tới điều kiện của nhà phát hành.

Tính sinh lợi: Chứng khoán là một tài sản tài chính mà khi sở hữu nó, nhà đầu tư có thể nhận được một thu nhập lớn hơn trong tương lai. Thu nhập này được bảo đảm bằng lợi tức được phân chia hàng năm và việc tăng giá chứng khoán trên thị trường.

2. Phân loại chứng khoán

Tuỳ theo cách chọn tiêu thức, người ta có thể phân loại chứng khoán thành nhiều loại khác nhau. Tuy nhiên ở đây, chứng khoán được chia thành ba tiêu thức chủ yếu, đó là theo tính chất của chứng khoán, theo khả năng chuyển nhượng và theo khả năng thu nhập.

2.1. Phân loại chứng khoán theo tính chất

Theo tính chất của chứng khoán, các loại chứng khoán được phân thành: Chứng khoán vốn; chứng khoán nợ và chứng khoán phái sinh.

Chứng khoán vốn:

Chứng khoán vốn là chứng thư xác nhận sự góp vốn và quyền sở hữu phần vốn góp và các quyền hợp pháp khác đối với tổ chức phát hành. Đại diện cho chứng khoán vốn là cổ phiếu và chứng chỉ quỹ đầu tư.

Cổ phiếu là một loại chứng khoán vốn được phát hành dưới dạng chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp đối với tài sản hoặc vốn của công ty cổ phần. Cổ phiếu là công cụ tài chính có thời hạn thanh toán là vô hạn.

Chứng khoán nợ

Chứng khoán nợ, điển hình là trái phiếu, là loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của người phát hành (người đi vay) phải trả cho người sở hữu chứng khoán (người cho vay) một khoản tiền nhất định bao gồm gốc và lãi trong thời gian cụ thể.

Là một loại giấy tờ có giá xác nhận nghĩa vụ trả nợ của tổ chức phát hành nên về hình thức chứng khoán nợ thường có những đặc điểm như sau:

+ Mệnh giá (giá trị danh nghĩa của chứng khoán)

Lãi suất (là mức lãi suất mà tổ chức phát hành phải trả cho người sở hữu khi chứng khoán đáo hạn)

+Thời gian đáo hạn (là khoảng thời gian mà tổ chức phát hành chứng khoán phải hoàn trả cả vốn và lãi cho người sở hữu chứng khoán)

Chứng khoán phái sinh
Chứng khoán phái sinh là các công cụ tài chính có nguồn gốc từ chứng khoán và có quan hệ chặt chẽ với các chứng khoán gốc. Các chứng khoán phái sinh được hình thành do nhu cầu giao dịch của người mua và người bán và phát triển phụ thuộc vào mức độ phát triển của thị trường chứng khoán. Có thể phân loại chứng khoán phái sinh thành các loại như sau:

Quyền mua trước

Quyền mua trước hay là đặc quyền mua là một quyền ưu đãi được gắn với một cổ phiếu đang lưu hành, do công ty phát hành ra cổ phiếu đó để huy động thêm vốn cổ phần, quyền mua trước cho phép người sở hữu những cổ phần đang lưu hành được mua một số nhất định cổ phiếu trong đợt phát hành mới của công ty, tại một mức giá xác định thấp hơn mức giá chào bán ra công chúng trong một thời hạn nhất định.

Chứng kế (bảo chứng phiếu)

Chứng kế hay còn gọi là bảo chứng phiếu (cam kết bán) là một loại chứng khoán được phát hành cùng với trái phiếu hay cổ phiếu ưu đãi mà người sở hữu nó có quyền được mua một số lượng chứng khoán nhất định tại một mức giá xác định và trong một thời hạn nhất định.

Hợp đồng kỳ hạn

Hợp đồng kỳ hạn là một thoả thuận giữa người mua và người bán thực hiện một giao dịch hàng hoá ở một thời điểm chắc chắn trong tương lai với mức giá và khối lượng xác định.

Hợp đồng tương lai

Hợp đồng tương lai là một thoả thuận để mua hoặc bán một tài sản vào thời điểm chắc chắn trong tương lai với mức giá xác định.

Quyền chọn

Hợp đồng quyền chọn là một hợp đồng cho phép người nắm giữ được mua (nếu là quyền chọn mua) hoặc được bán (nếu là quyền chọn bán) một khối lượng hàng hoá cơ sở nhất định tại một mức giá xác định trong một thời gian nhất định.

2.2. Phân loại chứng khoán theo khả năng chuyển nhượng

Theo cách thức này chứng khoán được phân thành chứng khoán ghi danh và chứng khoán vô danh

Chứng khoán vô danh là loại chứng khoán không ghi tên chủ sở hữu nên việc chuyển nhượng quyền sở hữu các chứng khoán này đơn giản, dễ dàng và thuận tiện.

Chứng khoán ghi danh là giấy xác nhận quyền sở hữu hoặc quyền đòi nợ có ghi tên chủ sở hữu. Loại chứng khoán này được phép chuyển nhượng nhưng phải tuân theo những quy định pháp lý cụ thể.

2.3. Phân loại chứng khoán theo thu nhập

Chứng khoán là một tài sản tài chính mà khi sở hữu nó, nhà đầu tư có thể nhận được một thu nhập lớn hơn trong tương lai. Tuỳ theo thu nhập, chứng khoán được chia thành các loại sau:

Chứng khoán có thu nhập cố định

Chứng khoán có thu nhập cố định là loại chứng khoán có số thu nhập cố định không phụ thuộc vào kết quả hoạt động của tổ chức phát hành. Nó có thể là chứng khoán vô danh hoặc chứng khoán ghi danh, có thể là tín phiếu, trái phiếu hoặc cổ phiếu ưu đãi. Thông thường, việc phát hành các loại chứng khoán có thu nhập cố định phải kèm theo những quy định pháp lý cụ thể nhằm bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư.

Chứng khoán có thu nhập không cố định

Là loại chứng khoán không xác định tỷ lệ lãi được hưởng. Cổ phiếu thường (cổ phiếu phổ thông) có thể được coi là đại diện cho loại chứng khoán có thu nhập biến đổi. Thu nhập do việc sở hữu cổ phiếu mang lại gọi là cổ tức (hay lợi tức cổ phần), nó biến động theo kết quả kinh doanh của công ty.

Chứng khoán có hình thức hỗn hợp

Các chứng khoán có hình thức này là những chứng khoán vừa mang tính chất của chứng khoán có thu nhập cố định, vừa mang tính chất của chứng khoán có thu nhập biến đổi. Ví dụ, có cổ phiếu ưu đãi có quyền được hưởng một mức lãi suất cố định hàng năm, đồng thời lại được hưởng thêm lợi tức được chia từ kết quả hoạt động kinh doanh của công ty phát hành.Việc phát hành loại chứng khoán này nhằm để thích ứng với nhu cầu đặc biệt của thị trường vốn.

3. Cổ phiếu

Cổ phiếu là một loại chứng khoán phát hành dưới dạng chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của người sở hữu cổ phiếu đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát hành.

Cổ phiếu là loại chứng khoán, nó có những tính chất sau:

Xác nhận việc đầu tư vốn vào tổ chức phát hành ra cổ phiếu

Không có kỳ hạn, cổ phiếu tồn tại cùng với sự tồn tại của tổ chức phát hành ra nó

Có thể được phát hành khi thành lập tổ chức hoặc khi tăng vốn

Người sở hữu cổ phiếu sở hữu một phần vốn/tài sản của tổ chức phát hành và chịu trách nhiệm hữu hạn về tình hình hoạt động của tổ chức đó

Cổ phiếu có thể được chuyển nhượng

Căn cứ vào quyền lợi của người sở hữu cổ phiếu thì cổ phiếu có những loại như sau:

Cổ phiếu phổ thông: lợi tức phụ thuộc vào tình hình hoạt động kinh doanh của tổ chức phát hành. Người sở hữu cổ phiếu là cổ đông và có quyền bỏ phiếu bầu ra Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, các quyết định lớn trong hoạt động kinh doanh của công ty theo chế độ Đại hội cổ đông.

Cổ phiếu ưu đãi: cổ phiếu có những đặc quyền nhất định, chẳng hạn như được hưởng lãi cố định, được ưu tiên chia lãi trước, được ưu tiên trong bỏ phiếu….Cổ phiếu ưu đãi gồm có: cổ phiếu ưu đãi tích luỹ; cổ phiếu ưu đãi không tích luỹ; cổ phiếu ưu đãi chuyển đổi; cổ phiếu ưu đãi có quyền chuộc lại.

Căn cứ vào khả năng chuyển nhượng thì cổ phiếu gồm:

Cổ phiếu ghi danh: có ghi tên chủ sở hữu

Cổ phiếu vô danh: không ghi tên chủ sở hữu

4. Trái phiếu

Trái phiếu là loại chứng khoán nợ được phát hành dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ xác định nghĩa vụ trả nợ của tổ chức phát hành trái phiếu đối với người sở hữu trái phiếu.

Là chứng khoán nợ nên trái phiếu có những tính chất sau:

Xác nhận việc vay nợ của tổ chức phát hành

Chủ yếu là có kỳ hạn

Lãi suất thường cố định

Có thể chuyển nhượng

Chủ thể phát hành trái phiếu là các đơn vị sản xuất kinh doanh và cả Chính phủ. Trái phiếu là công cụ quan trọng của thị trường tài chính. ở các nước có thị trường chứng khoán phát triển, qui mô giao dịch trái phiếu thường gấp 3-4 lần qui mô giao dịch cổ phiếu. Trái phiếu có thể được chia làm các loại sau:

Trái phiếu công ty: Chủ thể phát hành trái phiếu là các đơn vị sản xuất kinh doanh. Trái phiếu công ty có các loại như trái phiếu thế chấp; trái phiếu tín chấp; trái phiếu chuyển đổi; trái phiếu chiết khấu; trái phiếu thả nổi.

Trái phiếu chính phủ: Chủ thể phát hành trái phiếu là Chính phủ. Chính vì vậy các loại trái phiếu chính phủ được coi là có hệ số an toàn và tính thanh khoản cao nhất. Các loại trái phiếu chính phủ thường gặp ở Việt Nam bao gồm trái phiếu, tín phiếu kho bạc, trái phiếu đô thị, công trái xây dựng đất nước….
Previous
Next Post »