Dịch vụ viết luận văn tài chính - ngân hàng - kế toán

Dịch vụ viết luận văn tài chính - ngân hàng - kế toán

Cơ sở khoa học về quản lý tài chính đối với cơ quan quản lý hành chính nhà nước

Cơ sở khoa học về quản lý tài chính đối với cơ quan quản lý hành chính nhà nước

Quản lý tài chính là gì? Quản lý tài chính công là gì? Tất cả những điều bạn muốn biết và quản lý tài chính nhà nước đều có trong bài viết mà chúng tôi chia sẻ dưới đây.

>>> Xem thêm: Cơ sở lý luận về phân tích tài chính doanh nghiệp

1. Tổng quan về quản lý tài chính trong các cơ quan hành chính nhà nước

1.1. Cơ quan hành chính nhà nước

1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của cơ quan hành chính nhà nước

Cơ quan hành chính nhà nước là cơ quan thực hiện quyền hành pháp của Nhà nước. Đó là cơ quan quản lý chung hay từng mặt công tác, có nhiệm vụ chấp hành pháp luật và chỉ đạo thực hiện chủ trương, kế hoạch của Nhà nước.

Cơ quan hành chính nhà nước có các đặc điểm sau:

- Cơ quan hành chính nhà nước có chức năng thực hiện quyền hành pháp theo lãnh thổ và lĩnh vực.

- Mỗi cơ quan hành chính nhà nước có một thẩm quyền và chỉ giới hạn trong phạm vi hoạt động chấp hành, điều hành.

Cơ quan hành chính nhà nước đều trực tiếp hoặc gián tiếp trực thuộc cơ quan quyền lực của nhà nước; chịu sự lãnh đạo, giám sát, kiểm tra của các cơ quan quyền lực nhà nước ở cấp tương ứng; chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước cơ quan quyền lực đó.

Theo thẩm quyền, các cơ quan hành chính nhà nước được chia thành: cơ quan hành chính nhà nước thẩm quyền chung và cơ quan hành chính nhà nước thẩm quyền riêng.

Cơ quan hành chính nhà nước thẩm quyền chung quản lý mọi ngành, mọi lĩnh vực, mọi đối tượng tương ứng trong phạm vi các đơn vị hành chính lãnh thổ. Cơ quan hành chính nhà nước thẩm quyền riêng quản lý đối với ngành hoặc lĩnh vực.

Nội dung quản lý hành chính Nhà nước được thể hiện cụ thể thông qua các mục tiêu, nhiệm vụ, chức năng hoạt động của từng cơ quan hành chính Nhà nước, từng cấp, từng ngành và toàn thể hệ thống hành chính Nhà nước. Các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện chức năng hành pháp trên các mặt sau:

- Quản lý hành chính Nhà nước về kinh tế, văn hoá, xã hội, ngoại giao, an ninh, quốc phòng.

- Quản lý hành chính nhà nước về tài chính, ngân sách Nhà nước, công sản, hạch toán, kiểm toán, bảo hiểm, tín dụng.

- Quản lý hành chính nhà nước về khoa học, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên và môi trường.

- Quản lý hành chính nhà nước về nguồn lực và phát triển các nguồn nhân lực.

- Quản lý hành chính nhà nước về tổ chức bộ máy hành chính.

1.1.2. Phân loại các cơ quan hành chính nhà nước

Phân loại các cơ quan hành chính nhà nước theo cấp hành chính:

Tổ chức bộ máy hành chính nhà nước ở Trung ương

Tổ chức bộ máy hành chính nhà nước ở địa phương

Phân loại các cơ quan hành chính theo cấp cấp dự toán:

+ Đơn vị dự toán cấp I: Là đơn vị nhận trực tiếp ngân sách năm do cấp chính quyền tương ứng giao và chịu trách nhiệm phân bổ dự toán ngân sách năm xuống cho đơn vị cấp dưới, quản lý điều hành ngân sách năm của cấp mình và cấp dưới trực thuộc;

+ Đơn vị dự toán cấp II: Là đơn vị trực thuộc đơn vị dự toán cấp I, c nhiệm vụ nhận dự toán ngân sách của đơn vị dự toán cấp I và phân bổ dự toán cho đơn vị dự toán cấp III, c trách nhiệm tổ chức điều hành quản lý kinh phí của cấp mình và đơn vị dự toán cấp dưới;

Đơn vị dự toán cấp III: Là đơn vị dự toán trực tiếp sử dụng kinh phí từ đơn vị cấp II ho c đơn vị dự toán cấp I nếu không c cấp II, c trách nhiệm tổ chức thực hiện quản lý kinh phí của đơn vị mính và đơn vị dự toán cấp dưới;

+ Đơn vị dự toán cấp dưới của cấp III: Là đơn vị được nhận kinh phí để thực hiện phần công việc cụ thể, khi chi tiêu phải thực hiện việc quản lý kinh phí theo sự hướng dẫn của đơn vị dự toán cấp III.

Các cơ quan hành chính nhà nước phải hoạt động theo dự toán được cấp c thẩm quyền giao, dựa trên nguồn kinh phí do ngân sách Nhà nước cấp toàn bộ học một phần và các nguồn khác dựa nguyên tắc không bồi hoàn trực tiếp. Các cơ quan hành chính nhà nước với nhiều loại hình hoạt động đa dạng, phức tạp và hoạt động chủ yếu không vì mục tiêu lợi nhuận.

Các cơ quan hành chính nhà nước phải thực hiện việc lập dự toán thu chi hàng quý, hàng năm căn cứ trên các định mức, chế độ, tiêu chuẩn do Nhà nước quy định và dựa trên quy chế chi tiêu nội bộ đã được cấp c thẩm quyền phê duyệt (đối với một số khoản chi thường xuyên).

1.2. Tài chính trong cơ quan hành chính nhà nước

Tài chính trong cơ quan hành chính nhà nước được hiểu là các hoạt động thu và chi bằng tiền của các cơ quan nhà nước để đảm bảo hoạt động thường xuyên của cơ quan nhà nước, đồng thời thực hiện các nhiệm vụ mà Nhà nước giao phó.

Nguồn tài chính phục vụ cho hoạt động của các cơ quan hành chính Nhà nước có thể do ngân sách nhà nước (NSNN) cấp toàn bộ hoặc cấp một phần. Để duy trì các hoạt động cho sự tồn tại và phát triển của các cơ quan hành chính Nhà nước đòi hỏi phải có các nguồn tài chính đảm bảo. Trong khi đó, hoạt động của các cơ quan đơn vị này thực hiện mục đích phục vụ lợi ích công cho xã hội, không đòi hỏi người nhận những dịch vụ và hàng hóa do tổ chức mình cung cấp phải trả tiền. Do đó , NSNN sẽ phải cấp phát kinh phí để duy trì hoạt động của các tổ chức công. Hiện nay, các tổ chức công được phép thu một số khoản thu như phí, lệ phí và các khoản thu khác theo Luật pháp quy định nhằm bổ sung nguồn kinh phí hoạt động nhưng xét tổng thể thì nguồn kinh phí hoạt động chủ yếu vẫn do Nhà nước cấp.

1.3. Quản lý tài chính trong các cơ quan hành chính nhà nước

1.3.1. Khái niệm quản lý tài chính trong các cơ quan hành chính nhà nước

Thuật ngữ “Quản lý” thường được hiểu đó là quá trình mà chủ thể quản lý sử dụng các công cụ quản lý và phương pháp quản lý thích hợp nhằm điều khiển đối tượng quản lý hoạt động và phát triển nhằm đạt đến những mục tiêu đã định. Quản lý được sử dụng khi nói tới các hoạt động và các nhiệm vụ mà nhà quản lý phải thực hiện thường xuyên từ việc lập kế hoạch đến quá trình thực hiện kế hoạch đồng thời tổ chức kiểm tra. Ngoài ra nó còn hàm ý cả mục tiêu, kết quả và hiệu năng hoạt động của tổ chức.

Tài chính được thể hiện là sự vận động của các dòng vốn gắn với sự tạo lập và sử dụng những quỹ tiền tệ của các chủ thể khác nhau trong xã hội trong đ phản ánh các mối quan hệ kinh tế phát sinh giữa các chủ thể.

Quản lý tài chính trong các cơ quan hành chính nhà nước (HCNN) là quá trình áp dụng các công cụ và phương pháp quản lý nhằm tạo lập và sử dụng các quỹ tài chính trong các cơ quan HCNN để đạt những mục tiêu đã định.

Đối tượng quản lý của Quản lý tài chính trong các cơ quan, đơn vị, đ chính là hoạt động tài chính của những cơ quan, đơn vị này. Đ là các mối quan hệ kinh tế trong phân phối gắn liền với quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ trong mỗi cơ quan, đơn vị. Cụ thể là việc quản lý các nguồn tài chính cũng như những khoản chi đầu tư ho c các khoản chi thường xuyên của các cơ quan, đơn vị.

Để Quản lý tài chính trong các cơ quan, đơn vị; cơ quan, đơn vị sử dụng nhiều phương pháp cũng như nhiều công cụ quản lý khác nhau nhưng mục đích hướng đến của quản lý tài chính trong các cơ quan, đơn vị cũng là tính hiệu quả trong hoạt động tài chính để nhằm đạt đến những mục tiêu đã định.

1.3.2. Đặc điểm của quản lý tài chính trong cơ quan hành chính nhà nước 
QLTC trong các cơ quan hành chính nhà nước là một trong những nội dung quan trọng của QLTC công. Do vậy đặc điểm của QLTC trong cơ quan hành chính nhà nước vừa mang những nét cơ bản của QLTC công đồng thời lại gắn với đ c điểm và mục đích hoạt động của mỗi cơ quan hành chính nhà nước. Nhìn chung, QLTC công có những đặc điểm liên quan đến chủ thể QLTC, nguồn lực tài chính và việc sử dụng nguồn lực tài chính trong cơ quan hành chính nhà nước.

Quản lý tài chính trong các tổ chức công là quá trình áp dụng các công cụ và phương pháp quản lý nhằm tạo lập và sử dụng các quỹ tài chính trong tổ chức công để đạt những mục tiêu đã định.

Các cơ quan hành chính nhà nước là những đơn vị được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành quyết định thành lập nhằm quản lý nhà nước về một lĩnh vực nào đ hoặc thực hiện một nhiệm vụ chuyên môn nhất định. Cơ quan hành chính nhà nước có nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ hành chính công cho xã hội nhằm duy trì sự hoạt động bình thường của các ngành trong xã hội. Với các chức năng và nhiệm vụ như vậy nên những hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước hoàn toàn mang tính chất phục vụ nhằm thực hiện các chức năng của nhà nước và hoạt động của các tổ chức này đặc biệt là hoạt động tài chính không nhằm mục tiêu lợi nhuận. Do những điểm riêng nên hoạt động QLTC trong các cơ quan hành chính nhà nước được áp dụng theo chế độ QLTC đặc thù.

Nguồn lực tài chính phục vụ cho hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước được lấy từ nhiều nguồn khác nhau với những hình thức và phương pháp khác nhau. Tuy nhiên nguồn lực tài chính chủ yếu phục vụ cho hoạt động và duy trì sự tồn tại của bộ máy cơ quan hành chính nhà nước là từ ngân sách nhà nước. Việc tạo lập và sử dụng nguồn lực tài chính trong các cơ quan hành chính nhà nước căn cứ trên chế độ quy định pháp lý c liên quan hiện hành.

Việc sử dụng nguồn lực tài chính trong các cơ quan hành chính nhà nước gắn liền với việc thực hiện các chức năng và nhiệm vụ được Nhà nước giao cho mỗi cơ quan, nên việc đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính bên cạnh việc đánh giá về m t kinh tế còn xem xét đánh giá về mặt xã hội và việc đạt được những mục tiêu đã định trong sự phát triển xã hội.

1.3.3. Phạm vi

Nguồn kinh phí hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước:

Các nguồn lực tài chính trong tổ chức công chủ yếu bao gồm 3 nguồn: Nguồn thu từ ngân sách nhà nước, nguồn tự thu của tổ chức công và nguồn khác theo quy định.

Nguồn thu từ ngân sách nhà nước: Là nguồn kinh phí được cấp từ ngân sách (Ngân sách Trung ương hoặc Ngân sách địa phương) cho các cơ quan hành chính nhà nước nhằm đảm bảo cho các cơ quan hoạt động để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ được cơ quan quản lý cấp trên giao.

Nguồn tự thu: Là những khoản thu phí, lệ phí thuộc ngân sách nhà nước, những khoản thu từ hoạt động cung cấp dịch vụ được để lại đơn vị.

Nguồn thu khác theo quy định của pháp luật: Là những khoản thu từ các dự án viện trợ, quà biếu tặng và những khoản thu khác theo quy định của pháp luật.

Các khoản chi trong các cơ quan hành chính nhà nước:

Trong các cơ quan hành chính nhà nước các khoản chi được chia thành hai loại: Các khoản chi hoạt động thường xuyên và các khoản chi hoạt động không thường xuyên.

Các khoản chi thường xuyên: Gồm các khoản chi hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ được cấp c thẩm quyền giao, gồm: Các khoản chi cho con người như: Tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp lương, các khoản trích nộp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn theo quy định hiện hành; các khoản chi hành chính (vật tư văn phòng, dịch vụ công công...); các khoản chi hoạt động nghiệp vụ...; các khoản chi mua sắm tài sản, công cụ thiết bị văn phòng, duy tu, sửa chữa thường xuyên tài sản cố định, cơ sở vật chất và các khoản chi khác theo chế độ quy định.

Các khoản chi không thường xuyên: Gồm những khoản chi để thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ, các khoản chi thực hiện chương trình đào tạo bồi dưỡng cán bộ viên chức, các khoản chi thực hiện CTMT Quốc gia, các khoản chi thực hiện các nhiệm vụ do Nhà nước đặt hàng theo giá hoặc khung giá do Nhà nước quy định, chi vốn đối ứng thực hiện các dự án c nguồn vốn nước ngoài theo quy định, chi thực hiện các nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao, chi thực hiện tinh giản biên chế theo chế độ do nhà nước quy định (nếu c ), chi đầu tư phát triển bao gồm: Chi đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản cố định thực hiện các dự án được cấp c thẩm quyền phê duyệt, chi thực hiện các dự án từ nguồn vốn viện trợ nước ngoài, chi cho các hoạt động liên doanh, liên kết và các khoản chi khác theo quy định (nếu có).

2. Nội dung quản lý tài chính

2.1. Lập dự toán thu chi tài chính

2.1.1. Khái niệm

Lập dự toán là quá trình phân tích, đánh giá, tổng hợp, lập dự toán nhằm xác lập các chỉ tiêu thu chi của đơn vị dự kiến có thể đạt được trong năm kế hoạch, đồng thời xác lập các biện pháp chủ yếu về kinh tế - tài chính để đảm bảo thực hiện tốt các chỉ tiêu đã đề ra. [22, tr.18]

Lập dự toán là khâu quan trọng trong quá trình quản lý tài chính của đơn vị. Trong hoạt động quản lý nhà nước đối với kinh tế, lập dự toán luôn là nhiệm vụ không thể thiếu để hoạt động quản lý nền kinh tế c hiệu quả, lập dự toán là công cụ quản lý đắc lực của cơ quan chức năng cũng như của chính bản thân đơn vị. Quản lý việc lập dự toán được chính xác, hiệu quả và đúng chế độ. [12, tr.11]

2.1.2. Yêu cầu

Nhằm phân tích, đánh giá các khoản thu, chi tài chính trên cơ sở khoa học và thực tiễn, đưa ra các chỉ tiêu thu, chi tài chính sát với thực tế sao cho cho hiệu quả nhất. Điều đ đòi hỏi việc lập dự toán phải đáp ứng các yêu cầu sau:

+ Phải phản ánh đầy đủ chính xác các khoản thu, chi dự kiến theo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức của nhà nước.

+ Việc lập dự toán phải theo từng lĩnh vực thu và lĩnh vực chi.

+ Phải đảm bảo nguyên tắc cân đối, chi phải có nguồn đảm bảo.

+ Lập dự toán phải đúng theo nội dung, biểu mẫu quy định, đúng thời gian, phải thể hiện đầy đủ các khoản thu chi theo Mục lục ngân sách nhà nước và hướng dẫn của Bộ Tài chính gửi kịp thời cho các cơ quan chức năng của nhà nước xét duyệt.

Dự toán được lập phải kèm theo các báo cáo thuyết minh rõ cơ sở, căn cứ tính toán.

2.1.3. Quy trình

Thông báo số kiểm tra

Hàng năm, để lập dự toán trong các cơ quan hành chính nhà nước cần đòi hỏi phải c công tác hướng dẫn lập dự toán của cơ quan tài chính cấp trên và thông báo số kiểm tra dự toán.

Lập dự toán

Dựa vào số kiểm tra và văn bản hướng dẫn lập dự toán kinh phí, các đơn vị dự toán cơ sở tiến hành lập dự toán kinh phí của mình để gửi đơn vị dự toán cấp trên hoặc cơ quan Tài chính.

Đối với các cơ quan hành chính nhà nước hàng năm phải lập đầy đủ dự toán thu và dự toán chi cho các nhiệm vụ từ nguồn thu phí, lệ phí và thu khác được để lại đơn vị theo chế độ quy định để gửi lên cơ quan chủ quản cấp trên. Công tác lập dự toán được tiến hành vào cuối quý II đầu quý III của năm báo cáo. Căn cứ vào kết quả thực hiện kế hoạch tài chính năm trước để lập dự toán năm nay đồng thời trên cơ sở các chính sách, chế độ hiện hành để xác định định mức cụ thể.

Các cơ quan hành chính nhà nước phải lập dự toán theo các bước sau:

Bước 1: Lập dự toán thu

- Đối với các cơ quan hành chính nhà nước không c nguồn thu, trên cơ sở phân bổ và giao dự toán ngân sách năm đối với các đơn vị theo quy định của Thủ tướng Chính phủ, các đơn vị này tuỳ theo ngành và lĩnh vực hoạt động của đơn vị mình để xây dựng dự toán thu theo đúng quy định của nhà nước.

- Đối với các cơ quan hành chính nhà nước c thêm nguồn thu thì ngoài việc lập dự toán thu trên cơ sở phân bổ và giao dự toán ngân sách năm theo quy định của Thủ tướng Chính phủ, các đơn vị cần phải lập dự toán đối với các nguồn thu ngoài ngân sách.

Bước 2: Lập dự toán chi

Dự toán chi phản ánh nhu cầu chi dự kiến năm kế hoạch của đơn vị theo Mục lục ngân sách. Để xây dựng được dự toán chi, trước hết đơn vị phải căn cứ chức năng nhiệm vụ được giao, căn cứ vào định mức tiêu chuẩn chi và dự toán thu đã được lập của năm, sau đ dự báo nhu cầu chi trong năm kế hoạch và kết quả thực hiện kế hoạch chi tiêu năm trước để lập dự toán.

Tuy nhiên, đối với mỗi đơn vị, việc lập dự toán chi đòi hỏi phải cụ thể theo nguyên tắc:

- Các khoản chi phải có nguồn đảm bảo.

- Các khoản chi qua các năm phải tương đối ổn định.

- Các khoản chi thường xuyên phải gắn chặt với các hoạt động của đơn vị.

- Các mức chi phải tuân thủ theo đúng chế độ, chính sách quy định hiện hành của Nhà nước.

- Các khoản chi được lập phải đạt hiệu quả cao với nguồn lực thấp nhất.

Bước 3: Lập Báo cáo thuyết minh dự toán

Trên cơ sở dự toán thu và dự toán chi, tiến hành lập Bản Báo cáo thuyết minh dự toán. Trên Bản báo cáo thuyết minh dự toán phải chỉ ra được các nội dung sau:

Căn cứ xác định các chỉ tiêu trong dự toán.

- Cơ cấu thu, chi tài chính dự toán c ph hợp với định mức quy định hay không.

Sự thay đổi thu chi tài chính dự toán năm kế hoạch so với năm báo cáo như thế nào, nguyên nhân cụ thể của sự thay đổi đó.

Các biện pháp cơ bản để thực hiện tốt dự toán.

Hoàn chỉnh dự toán và trình cấp trên

Căn cứ vào dự toán đã được cơ quan quyền lực nhà nước đồng cấp thông qua và đã được sự chấp thuận của cơ quan hành chính nhà nước cấp trên; cơ quan Tài chính sau khi xem xét điều chỉnh lại cho phù hợp sẽ đề nghị cơ quan quyền lực Nhà nước đồng cấp chính thức phân bổ và giao dự toán chi thường xuyên cho mỗi ngành, mỗi cấp, mỗi đơn vị. Thông thường thì Quốc hội phải phân bổ dự toán ngân sách Trung ương; Hội đồng nhân dân các cấp phải phân bổ dự toán ngân sách cấp mình. Việc lập dự toán chi thường xuyên chỉ được coi là hoàn tất và tuân thủ đúng qui định của Luật NSNN hiện hành khi vào thời điểm trước ngày 31 tháng 12 của năm báo cáo, tất cả các đơn vị dự toán cấp III đã nhận được thông báo về tổng số kinh phí theo dự toán của đơn vị đã được duyệt và đơn vị được quyền sử dụng cho năm kế hoạch.

2.2. Thực hiện dự toán

2.2.1. Khái niệm và nội dung thực hiện dự toán

Khái niệm:

Thực hiện dự toán ngân sách là khâu tiếp theo khâu lập ngân sách của một chu trình ngân sách. Thực hiện dự toán Ngân sách là quá trình sử dụng tổng hợp các biện pháp kinh tế - tài chính và hành chính nhằm biến các chỉ tiêu thu chi ghi trong dự toán ngân sách của đơn vị trở thành hiện thực. [22, tr. 25].

Mục tiêu của thực hiện dự toán ngân sách:

+ Biến các chỉ tiêu ghi trong dự toán ngân sách năm của đơn vị từ khả năng, dự kiến thành hiện thực. Từ đó góp phần biến các chỉ tiêu của kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của Nhà nước từ khả năng thành hiện thực.

Thông qua việc thực hiện dự toán ngân sách mà tiến hành kiểm tra việc thực hiện các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức về kinh tế tài chính của nhà nước.

Khi tiến hành hoạt động QLTC trong một đơn vị, để đảm bảo thu, chi hiệu quả đơn vị phải căn cứ vào các Nghị định và thông tư hướng dẫn. Quá trình thực hiện thu chi phải đảm bảo đúng theo pháp luật quy định trên cơ sở việc thực hiện phải cân đối giữa thu và chi.

Nội dung thực hiện dự toán:


Các cơ quan hành chính nhà nước có nhiệm vụ và trách nhiệm thực hiện tốt việc tổ chức thực hiện dự toán ngân sách. Tổ chức thực hiện dự toán ngân sách nhà nước cũng là trách nhiệm của tất cả các cấp, các ngành, các đơn vị có liên quan đến các hoạt động thu chi ngân sách nhà nước. Nội dung tổ chức thực hiện dự toán ngân sách như sau:

- Khi nhận được số phân bổ về ngân sách, các cơ quan nhà nước và các đơn vị dự toán cấp I giao nhiệm vụ cho các đơn vị trực thuộc bảo đảm đúng với dự toán ngân sách được phân bổ, đồng thời thông báo cho cơ quan tài chính cung cấp và KBNN nơi giao dịch để theo dõi, cấp phát, quản lý. Trong trường hợp vào đầu năm ngân sách, dự toán ngân sách và chỉ tiêu phân bổ ngân sách chưa được cơ quan nhà nước c thẩm quyền quyết định, cơ quan tài chính các cấp được phép tạm cấp kinh phí cho các nhu cầu chi không thể trì hoãn được cho tới khi dự toán ngân sách và phân bổ ngân sách được duyệt.

Các cơ quan nhà nước trong phạm vi, nhiệm vụ và quyền hạn của mình đề ra những biện pháp cần thiết nhằm đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ thu, chi ngân sách được giao.

Các đơn vị dự toán ngân sách, các tổ chức và cá nhân phải thực hiện dự toán nghĩa vụ nộp ngân sách theo quy định của pháp luật, sử dụng kinh phí ngân sách theo đúng mục đích, đúng chế độ, tiết kiệm, hiệu quả.

Các cơ quan tài chính các cấp, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình c trách nhiệm đôn đốc, kiểm tra các tổ chức cá nhân c nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước, nộp đầy đủ, nộp đúng kỳ hạn các khoản phải nộp vào ngân sách.

Tất cả các khoản thu ngân sách phải được nộp trực tiếp vào KBNN, trường hợp đặc biệt cơ quan thu được tổ chức thu trực tiếp và phải nộp đầy đủ, đúng thời hạn vào KBNN theo quy định của Bộ trưởng Bộ tài chính.

Các khoản chi thường xuyên theo định kỳ phải được bố trí kinh phí đều trong năm để chi. Các khoản có tính thời vụ hoặc mua sắm lớn phải có kế hoạch với cơ quan tài chính để chủ động bố trí kinh phí.

Việc cấp phát các khoản chi thường xuyên được thực hiện theo quy định sau:

+ Căn cứ vào dự toán ngân sách nhà nước được giao, tiến độ triển khai công việc và điều kiện chi ngân sách, thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách quyết định chi gửi KBNN nơi giao dịch, kèm theo các tài liệu cần thiết theo quy định.

+ KBNN kiểm tra tính hợp pháp của các tài liệu do đơn vị sử dụng ngân sách gửi, thực hiện việc thanh toán khi có đủ các điều kiện quy định.

Việc thanh toán thực hiện theo nguyên tắc trực tiếp từ KBNN cho người hưởng. Đối với các khoản chi chưa có điều kiện thanh toán trực tiếp, KBNN tạm ứng cho đơn vị sử dụng ngân sách để chủ động chi theo dự toán được giao, sau đ thanh toán với Kho bạc theo đúng nội dung, thời hạn quy định.

Các đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước có nhiệm vụ báo cáo định kỳ tình hình thực hiện ngân sách nhà nước gửi cho cơ quan tài chính. Nếu vi phạm chế độ báo cáo, cơ quan tài chính cung cấp c quyền tạm đình chỉ cấp phát kinh phí của tổ chức, cá nhân và chịu trách nhiệm về quyết định của mình.

2.2.2. Tổ chức thực hiện dự toán thu

Thực hiện dự toán thu từ nguồn ngân sách nhà nước:

Đối với khoản thu từ ngân sách nhà nước, đơn vị được cấp qua KBNN dưới hình thức KBNN sẽ cấp các khoản thu trên cơ sở dự toán chi thường xuyên và chi không thường xuyên theo dự toán đã được phê duyệt. Hàng tháng căn cứ vào các khoản chi thường xuyên và chi không thường xuyên đơn vị tiến hành làm thủ tục rút tiền từ Kho bạc.

Tổ chức thực hiện và quản lý thu Phí và lệ phí:

Tuỳ theo loại hình hoạt động của đơn vị để sử dụng biên lai thu theo đúng quy định của pháp luật. Các khoản thu phí và lệ phí tỷ lệ để lại cho các đơn vị cần phải thực hiện theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền với mỗi loại phí và lệ phí.

Tổ chức thực hiện dự toán đối với các nguồn thu khác:

Ngoài các khoản thu trên thì các tổ chức công còn c các khoản thu khác như: thu từ hoạt đ ng g p tự nguyện của các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước, các khoản viện trợ không hoàn lại, các khoản đóng góp tự nguyện khác theo quy định của pháp luật. Các khoản thu này phát sinh không thường xuyên và không lớn, nhưng c tính chất không hoàn trả nên chúng c tác dụng quan trọng trong bổ sung tăng cường thêm nguồn lực tài chính cho cơ quan.

2.2.3. Tổ chức thực hiện dự toán chi

Tổ chức thực hiện dự toán chi thường xuyên

Căn cứ tổ chức thực hiện dự toán dự toán chi thường xuyên

Thông thường thời gian tổ chức thực hiện dự toán chi thường xuyên được tính từ ngày 01 tháng 1 đến hết ngày 31 tháng 12 năm dương lịch. Trong quá trình tổ chức thực hiện dự toán dự toán chi thường xuyên cần dựa trên những căn cứ sau:

Thứ nhất, dựa vào mức chi của từng chỉ tiêu đã được duyệt trong dự toán. Có thể nói đây là căn cứ mang tính quyết định nhất trong thực hiện dự toán dự toán chi thường xuyên đã c định mức, tiêu chuẩn, đã được cơ quan có thẩm quyền xét duyệt và thông qua. Đặc biệt trong điều kiện hiện nay, cùng với việc tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý chi thường xuyên ngày càng được hoàn thiện. Do đó chi tiêu của tổ chức công ngày càng được luật hoá. Nhờ đ mà kỷ cương trong công tác quản lý chi thường xuyên ngày càng được củng cố.

Thứ hai, dựa vào khả năng nguồn kinh phí có thể dành cho nhu cầu chi thường xuyên trong mỗi kỳ báo cáo. Trong quản lý và điều hành hoạt động của tổ chức công ta luôn phải tuân theo quan điểm “lường thu mà chi” riêng chi thường xuyên của tổ chức công luôn bị giới hạn bởi khả năng huy động các khoản thu thường xuyên. Do vậy, mặc dù các khoản chi thường xuyên đã được ghi trong dự toán nhưng một khi số thu thường xuyên không đảm bảo vẫn phải cắt giảm một phần nhu cầu chi. Đây cũng là một trong những giải pháp thiết lập lại sự cân đối giữa thu và chi trong quá trình thực hiện dự toán dự toán.

Thứ ba, dựa vào các chính sách, chế độ chi thường xuyên hiện hành. Đây là căn cứ mang tính pháp lý cho công tác tổ chức thực hiện dự toán dự toán chi thường xuyên. Bởi lẽ, tính hợp lệ, hợp lý của các khoản chi của tổ chức công sẽ được phán xét dựa trên cơ sở các chính sách, chế độ chi của Nhà nước hiện đang có hiệu lực thi hành. Trong điều kiện nước ta hiện nay để cho chính sách, chế độ thi thường xuyên thực sự trở thành căn cứ pháp lý trong quá trình thực hiện dự toán chi thường xuyên thì đòi hỏi bản thân chính sách, chế độ đ phải không ngừng được hoàn thiệt để vừa đáp ứng được các yêu cầu của quản lý của tổ chức công lại vừa nâng cao tính thực tiễn của nó.

Một số nguyên tắc trong quá trình thực hiện dự toán chi thường xuyên:

Nguyên tắc quản lý theo dự toán:

Những khoản chi thường xuyên một khi đã được ghi vào dự toán chi và được cơ quan có thẩm quyền xét duyệt được coi là chỉ tiêu pháp lệnh. Xét trên giác độ quản lý, số chi thường xuyên đã được ghi trong dự toán thể hiện sự cam kết của các cơ quan chức năng về quản lý tài chính với các đơn vị thụ hưởng ngân sách.

Nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả:

Có thể nói tiết kiệm, hiệu quả là một trong những nguyên tắc quan trọng hàng đầu của quản lý kinh tế, tài chính, bởi một lẽ giản đơn rằng: Nguồn lực thì luôn có giới hạn nhưng nhu cầu thì không có mức giới hạn nào. Do vậy, trong quá trình phân bổ và sử dụng các nguồn lực khan hiếm luôn phải tính toán sao cho với chi phí ít nhất nhưng vẫn đạt hiệu quả một cách tốt nhất.

* Nguyên tắc chi trực tiếp qua Kho bạc Nhà nước:

Chi trực tiếp qua KBNN là phương thức thanh toán chi trả có sự tham gia của 3 bên: Đơn vị sử dụng ngân sách; KBNN; tổ chức cá nhân được nhận các khoản tiền do đơn vị sử dụng ngân sách thanh toán chi trả bằng hình thức thanh toán không dùng tiền mặt. Cách thức tiến hành cụ thể là: Đơn vị sử dụng ngân sách ủy quyền cho KBNN trích tiền từ tài khoản của mình để chuyển trả vào tài khoản cho người được hưởng ở một trung gian tài chính nào đ , nơi người được hưởng mở tài khoản giao dịch.

Tổ chức thực hiện dự toán chi không thường xuyên

Đối với chi không thường xuyên, hàng năm đơn vị được cấp trên phê duyệt một số hoạt động chi lớn như chi đầu tư xây dựng cơ bản, chi mua sắm tài sản cố định, chi việc thực hiện tinh giản biên chế, chi nhiệm vụ đ c th của đơn vị... trước hết để được cấp các khoản chi đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước qua Kho bạc, đơn vị cần mở tài khoản tại Kho bạc để tiếp nhận. Đầu năm đơn vị phải gửi cho Kho bạc nơi giao dịch một bản kế hoạch vốn đầu tư xây dựng cơ bản năm. Nếu trong năm có nguồn đầu tư xây dựng cơ bản được bổ sung thì đơn vị cần có quyết định mức cấp bổ sung do cơ quan có thẩm quyền phê duyệt nộp Kho bạc.

2.3. Quyết toán ngân sách trong các cơ quan hành chính nhà nước

2.3.1. Khái niệm

Quyết toán là khâu cuối c ng trong quá trình quản lý tài chính năm. Quyết toán là quá trình kiểm tra rà soát, chỉnh lý số liệu đã được phản ánh sau một kỳ chấp hành dự toán, tổng kết đánh giá quá trình thực hiện dự toán năm [14, tr.43].

Công tác quyết toán thực hiện tốt sẽ cung cấp các thông tin cần thiết để đánh giá lại việc thực hiện kế hoạch tài chính năm. Từ đó rút ra những kinh nghiệm thiết thực cho công tác lập và chấp hành dự toán năm sau.

Kết quả quyết toán cho phép tổ chức kiểm điểm đánh giá lại hoạt động của mình, từ đó có những điều chỉnh kịp thời theo xu hướng thích hợp.

2.3.2. Quy trình quyết toán

Quy trình quyết toán Ngân sách Nhà nước được áp dụng đối với tất cả các khoản ngân sách nhà nước giao dự toán, các khoản thu được để lại chi theo chế độ quy định và ngân sách các cấp chính quyền địa phương. Quy trình quyết toán tài chính bao gồm các hoạt động sau: Khóa sổ thu chi ngân sách cuối năm; lập báo cáo quyết toán; xét duyệt, thẩm định báo cáo quyết toán.

Khóa sổ thu chi ngân sách cuối năm

Đến ngày 31 tháng 12, đơn vị phải xác định chính xác số dư tạm ứng, số dư dự toán còn lại chưa chi, số dư tài khoản tiền gửi của đơn vị để phương hướng xử lý theo quy định.

Về nguyên tắc, các khoản chi được bố trí trong dự toán ngân sách năm nào chỉ được chi trong niên độ ngân sách năm đó.

Thời hạn chi, tạm ứng ngân sách (kể cả tạm ứng vốn đầu tư xây dựng cơ bản) đối với các nhiệm vụ được bố trí trong dự toán ngân sách nhà nước hàng năm được thực hiện chậm nhất đến hết ngày 31 tháng 12.

Hết ngày 31 tháng 12, các khoản tạm ứng (gồm cả tạm ứng vốn đầu tư xây dựng cơ bản) trong dự toán theo chế độ, nếu chưa thanh toán thì được tiếp tục thanh toán trong thời gian chỉnh lý quyết toán và hạch toán, quyết toán vào ngân sách năm trước.

Thời gian chỉnh lý quyết toán ngân sách: Đến hết ngày 31 tháng 01 năm sau.

Lập báo cáo quyết toán

Báo cáo quyết toán ngân sách dùng để tổng hợp tình hình về tài sản, tiếp nhận và sử dụng kinh phí ngân sách của Nhà nước; tình hình thu, chi và kết quả hoạt động của đơn vị trong kỳ kế toán năm, cung cấp thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu cho việc đánh giá tình hình và thực trạng của đơn vị.

Thẩm định, xét duyệt báo cáo quyết toán

Trình tự lập, gửi, xét duyệt và thẩm định quyết toán năm của các đơn vị dự toán được quy định như sau:

+ Xét duyệt:

Đơn vị dự toán cấp dưới lập báo cáo quyết toán ngân sách năm theo chế độ quy định và gửi đơn vị dự toán cấp trên.

Đơn vị dự toán cấp trên xét duyệt quyết toán và thông báo kết quả xét duyệt cho các đơn vị cấp dưới trực thuộc.

Thời hạn: Thời gian gửi báo cáo quyết toán của đơn vị dự toán cấp II, III do đơn vị cấp I quy định nhưng phải đảm bảo thời hạn để đơn vị dự toán cấp I gửi báo cáo quyết toán cho Bộ Tài chính chậm nhất trước ngày 1 tháng 10 năm sau.

Thời hạn gửi báo cáo quyết toán năm của các cấp địa phương do UBND tỉnh quy định, nhưng phải bảo đảm thời gian để HĐND phê chuẩn quyết toán.

Trong quá trình xét duyệt, c những trường hợp báo cáo quyết toán phải điều chỉnh số liệu, điều chỉnh những sai sót hoặc phải lập lại báo cáo quyết toán nếu cấp trên yêu cầu.

Trong phạm vi 10 ngày kể từ ngày nhận được thông báo xét duyệt quyết toán, đơn vị dự toán cấp dưới phải thực hiện xong những yêu cầu trong thông báo xét duyệt quyết toán. Trường hợp đơn vị dự toán cấp dưới ý kiến không thống nhất với thông báo duyệt quyết toán của đơn vị dự toán cấp trên thì phải có văn bản gửi đơn vị dự toán cấp trên nữa để xem xét và quyết định. Trường hợp đơn vị dự toán cấp II có ý kiến không thống nhất với thông báo duyệt quyết toán của thủ trưởng đơn vị dự toán cấp I thì phải có văn bản gửi cơ quan tài chính (đồng cấp với đơn vị dự toán cấp I) để xem xét và quyết định. Trong khi chờ ý kiến quyết định của các cấp có thẩm quyền thì đơn vị dự toán cấp dưới phải chấp hành theo thông báo duyệt quyết toán của đơn vị dự toán cấp trên.

Thẩm định: Các đơn vị dự toán cấp trên là đơn vị dự toán cấp I, phải tổng hợp và lập báo cáo quyết toán năm của đơn vị mình và báo cáo quyết toán của các đơn vị dự toán cấp dưới trực thuộc, gửi cơ quan Tài chính cung cấp.

Cơ quan Tài chính cung cấp thẩm định quyết toán năm của các đơn vị dự toán cấp I, xử lý theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền xử lý sai phạm trong quyết toán của đơn vị dự toán cấp I, ra thông báo thẩm định quyết toán gửi đơn vị dự toán cấp I. Trường hợp đơn vị dự toán cấp I đồng thời là đơn vị sử dụng ngân sách, cơ quan Tài chính duyệt quyết toán và thông báo kết quả xét duyệt quyết toán cho đơn vị dự toán cấp I.

Thời hạn thẩm định: Không quá 30 ngày đối với các trường hợp do Bộ Tài chính thẩm định.

Thời hạn thẩm định báo cáo quyết toán năm của cơ quan tài chính ở địa phương do UBND tỉnh quy định, nhưng phải bảo đảm thời gian để HĐND phê chuẩn quyết toán năm.

Trong phạm vi 10 ngày kể từ khi đơn vị dự toán cấp I nhận được thông báo nhận xét quyết toán năm của cơ quan tài chính, đơn vị dự toán cấp I phải thực hiện xong những yêu cầu trong thông báo nhận xét quyết toán của cơ quan tài chính.

Trường hợp đơn vị dự toán cấp I c ý kiến không thống nhất với thông báo nhận xét quyết toán của cơ quan tài chính thì phải trình Uỷ ban nhân dân đồng cấp (nếu là đơn vị dự toán thuộc cấp chính quyền địa phương) hoặc trình Thủ tướng Chính phủ (nếu là đơn vị dự toán thuộc trung ương) để xem xét và quyết định. Trong khi chờ ý kiến quyết định của Uỷ ban nhân dân đồng cấp và Thủ tướng Chính phủ thì mọi quyết định của cơ quan tài chính phải được thi hành.

2.4. Thanh tra, kiểm tra tài chính

Việc thực hiện kế hoạch thu chi tài chính không phải bao giờ cũng đúng như dự kiến. Do vậy, đòi hỏi phải có sự kiểm tra thường xuyên để phát hiện sai sót, để đưa ra các biện pháp điều chỉnh giúp đơn vị nắm được tình hình quản lý tài chính nhằm đảm bảo hiệu quả trong quản lý.

Các hình thức kiểm tra tài chính:

Kiểm tra trước khi thực hiện kế hoạch tài chính: Kiểm tra được tiến hành khi xây dựng, xét duyệt và quyết định dự toán thu – chi của cơ quan đơn vị khi phân tích tài chính và lập kế hoạch tài chính.

Kiểm tra thường xuyên các hoạt động thu – chi, kiểm tra cơ cấu thu chi tài chính, kiểm tra việc sử dụng các quỹ tài chính.

Kiểm tra định kỳ, hàng tháng, quý năm.

- Kiểm tra đột xuất khi cần có thông tin.

Cùng với việc thanh tra, kiểm tra, công tác đánh giá được coi trọng trong quá trình quản lý tài chính. Đánh giá để xem việc gì đạt hiệu quả hay gây lãng phí để có biện pháp động viên kịp thời cũng như rút kinh nghiệm quản lý.

Hiện nay người ta thường dùng các tiêu chí sau để đánh giá hiệu quả

hoạt động tài chính của đơn vị sự nghiệp công. Đó là:

- Mức cân đối tài chính: Cơ cấu các nguồn thu và sử dụng các nguồn thu trong năm tài chính.

Hiệu quả các hoạt động: Thể hiện chất lượng chuyên môn và quy mô phát triển của đơn vị.

Hạch toán chi phí: Chi phí kế toán và chi phí kinh tế.

Kho bạc Nhà nước thực hiện kiểm soát chi của cơ quan nhà nước. Kho bạc Nhà nước căn cứ vào dự toán thu, chi tài chính của đơn vị được cấp có thẩm quyền phê duyệt hoặc dự toán thu, chi do đơn vị lập để kiểm soát chi bảo đảm thuận tiện cho đơn vị.

Cơ quan chủ quản và các cơ quan nhà nước có liên quan thực hiện việc kiểm tra, thanh tra, kiểm soát hoạt động thu, chi của các đơn vị theo đúng quy định của pháp luật về chế độ tài chính áp dụng cho cơ quan nhà nước.
Previous
Next Post »