Dịch vụ viết luận văn tài chính - ngân hàng - kế toán

Dịch vụ viết luận văn tài chính - ngân hàng - kế toán

Mẫu tiểu luận phân tích tài chính doanh nghiệp

Trong bài viết này, chúng tôi xin chia sẻ đến bạn đọc mẫu tiểu luận phân tích tài chính doanh nghiệp. Hi vọng rằng với bài chia sẻ này, bạn sẽ hoàn thành bài tiểu luận của mình một cách dễ dàng hơn.

tiểu luận phân tích tài chính doanh nghiệp


1. GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY

Công ty TNHH Minh Hà (viết tắt là Công ty) do các cá nhân góp vốn đầu tư, có tư cách pháp nhân và hạch toán độc lập . Là nhà phân phối chính của công ty bánh kẹo Kinh Đô, thuốc lá Thăng Long phục vụ nhu cầu hàng ngày của các tầng lớp nhân dân trên cả nước.

Công ty được thành lập theo Quyết định số 1900/QĐ/UB ngày 20 tháng 7 năm 1996 của UBND Tp .Hồ Chí Minh, Công ty TNHH Minh Hà trực thuộc Công ty bánh kẹo Kinh Đô.

Theo giấy phép kinh doanh số 37741 SXD do Sở kế hoạch và đầu tư Tp.Hồ Chí Minh cấp, ngành nghề kinh doanh chủ yếu của Công ty là:

Nghiên cứu nhu cầu thị trường và khả năng tiêu thụ sản phẩm.

Tổ chức các nghiệp vụ cung ứng vận chuyển nguyên vật liệu cho sản xuất.

Tổ chức phân phối mặt hàng bánh kẹo chủ yếu ở các tỉnh phía Nam.

2. THỰC TRẠNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CÔNG TY

Trong nền kinh tế thị trường với sự phát triển của nhiều thành phần kinh tế, các doanh nghiệp đều cố gắng giữ vững vị trí của mình và luôn tìm biện pháp nhằm mở rộng thị trường. Để có thể làm được điều đó, các doanh nghiệp không những phải nghiên cứu nhu cầu thị trường mà đồng thời phải đánh giá được thực lực hiện có của mình qua việc phân tích các báo cáo tài chính. Mục đích này chỉ đạt được khi các báo cáo tài chính được lập một cách trung thực. Hàng quý Công ty thực hiện chế độ các báo cáo bao gồm: Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, thuyết minh báo cáo tài chính và các phụ biểu khác.

2.1. Bảng Cân đối kế toán của Công ty năm 2011







2.2. Báo cáo Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty năm 2011


3. PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY

Phân tích khái quát bảng Cân đối kế toán:

Thực trạng tài chính của Công ty được biểu hiện rõ nét trên bảng cân đối kế toán (Bảng 1 – mục II bên trên) nó nói lên sự biến động trong cơ cấu tài sản, trong cơ cấu nguồn vốn đồng thời cũng chỉ rõ việc doanh nghiệp huy động và sử dụng vốn có hiệu quả hay không giữa hai kỳ kế toán liên tiếp.

Sự biến động các khoản mục Cân đối rút gọn được thể hiện bảng sau: (Đơn vị tính: 1.000 đồng)


3.1. Về cơ cấu vốn

Qua bảng trên ta thấy tổng số tài sản hiện Công ty đang quản lý và sử dụng là 220.597.703.000đ, tăng so với năm 2010 là 42.968.959.000đ với tỷ lệ tăng là 24,19%. Điều này cho thấy quy mô kinh doanh của Công ty tăng lên nhiều so với năm 2010. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, để có thể duy trì và mở rộng thị trường, và để có thể cạnh tranh được với các doanh nghiệp cùng ngành khác thì việc mở rộng quy mô vốn kinh doanh là điều hợp lý và tất nhiên.

Năm 2010 Công ty đầu tư 97,11% tổng tài sản vào tài sản ngắn hạn (TSNH), trong khi đó tài sản dài hạn (TSDH) là 2,89% và năm 2011 tỷ trọng tương ứng là 97,04% và 2,96%. Đối với doanh nghiệp như Công ty TNHH Minh Hà thì TSNH chiếm tỷ trọng lớn hơn nhiều so với TSDH bởi lẽ chu kỳ sản xuất kinh doanh của Công ty ngắn, số vòng quay lớn do đó mà cần nhiều TSNH. So với những doanh nghiệp khác trong cùng ngành thì TSNH chiếm trên 90% tổng tài sản là hợp lý. Việc đầu tư vào TSNH sẽ tạo vốn cho hoạt động kinh doanh đồng thời giải quyết nhanh khâu thanh toán cũng như trả nợ vay. Qua năm 2011 tỷ trọng TSDH là 2,96%. Đây là dấu hiệu chứng tỏ Công ty đã chú trọng hơn đến việc đầu tư vào TSDH tuy nhiên việc điều chỉnh này là rất ít, không đáng kể và không làm thay đổi cơ cấu vốn.

Từ bảng số liệu trên cũng cho thấy so với năm 2010 lượng tiền tăng lên rất nhanh (lượng tiền tăng 28.626.719.000đ, với mức tăng là 310,95% ). Điều này cho thấy tốc độ tăng của các khoản mục này là rất lớn, song do tỷ trọng của chúng chiếm trong tổng TSNH khá nhỏ nên mức độ ảnh hưởng của chúng đến sự biến động của TSNH là không lớn. Sở dĩ năm 2011 Công ty có lượng tiền tăng như vậy là do đã giảm được tỷ trọng của các khoản phải thu và hàng tồn kho.

Chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu TSNH là khoản phải thu và hàng tồn kho. Năm 2010 các khoản phải thu chiếm 38,41% và hàng tồn kho chiếm 53,38% tổng tài sản và con số tương ứng của năm 2011 là 34,04% và 45,44%. Nếu chỉ xét riêng riêng 02 khoản mục này trong cơ cấu TSNH thì năm 2010 02 khoản mục này chiếm tỷ lệ 94,52% và 81,90% trong năm 2011. Bên cạnh đó, tốc độ tăng của các khoản phải thu là 10,08% nhỏ hơn tốc độ tăng của TSNH là 24,11%; Và tốc độ tăng của hàng tồn kho giữ ở mức 5,72% điều này chứng tỏ Công ty có xu hướng giảm lượng hàng tồn kho nhằm tránh ứ đọng vốn.

3.2. Về cơ cấu nguồn vốn

Qua việc phân tích cơ cấu nguồn vốn giúp chúng ta thấy, để có vốn cho sản xuất kinh doanh Công ty đã huy động từ những nguồn nào và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến sự biến động của nguồn vốn . Qua đó thấy mức độ độc lập về mặt tài chính và trách nhiệm pháp lý đối với các khoản nợ của Công ty.

Số liệu bảng trên cho thấy năm 2011 so với năm 2010 nguồn vốn tăng 42.968.959.000đ, với mức tăng là 24,19%. Sự tăng , giảm nguồn vốn chịu ảnh hưởng của 2 nhân tố là nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu. Nếu như nguồn vốn chủ sở hữu chiếm tỷ lệ cao trong tổng số nguồn vốn thì doanh nghiệp có khả năng tự đảm bảo về mặt tài chính và mức độ độc lập của doanh nghiệp đối với chủ nợ là rất cao . Ngược lại nếu công nợ phải trả chiếm chủ yếu trong tổng số nguồn vốn thì khả năng bảo đảm về mặt tài chính là rất thấp.

Cũng qua bảng số liệu trên cho thấy tỷ trọng nợ phải trả và tỷ trọng nguồn vốn chủ sở hữu qua 2 kỳ kế toán là không có sự thay đổi đáng kể. Năm 2010 nợ phải trả chiếm 74,62% và nguồn vốn chủ sở hữu chiếm 25,38% tổng nguồn vốn, chứng tỏ khả năng đảm bảo về mặt tài chính của Công ty là thấp, tổng số nợ phải trả quá cao. Năm 2011 số nợ của Công ty là 74,93% trong khi nguồn vốn chủ sở hữu là 25,07%. Mức độ tăng giữa 2 năm lần lượt là 24,71% và 22,65%. Mặc dù vốn chủ sở hữu của Công ty đã tăng được 10 tỷ đồng là một con số đáng mừng nhưng kéo theo đó là sự gia tăng của nợ phải trả là 32 tỷ đồng . Tuy nhiên, đây cũng không phải là dấu hiệu xấu vì đây chủ yếu các khoản nợ ngắn hạn. Thế nhưng Công ty cũng cần có chính sách thích hợp để đảm bảo khả năng thanh toán các khoản nợ, vay ngắn hạn (vì thời hạn của chúng rất ngắn).
Previous
Next Post »