Dịch vụ viết luận văn tài chính - ngân hàng - kế toán

Dịch vụ viết luận văn tài chính - ngân hàng - kế toán

Mẫu luận văn về tài chính vi mô

Bạn đang cảm thấy rối ren vì phải hoàn thành bài luận văn về tài chính vi mô? Bạn chưa biết bắt đầu từ đâu và như thế nào? Đừng lo, hãy xem ngay bài mẫu luận văn này nhé.

tài chính vi mô

>>> Xem thêm: Chia sẻ mẫu luận văn tài chính hành vi

1. Nội dung đánh giá các chính sách về tổ chức tài chính vi mô

1.1. Quá trình hình thành chính sách về tổ chức tài chính vi mô 

Quá trình hình thành chính sách về TC TCVM ở Việt Nam được mô tả tóm tắt như sau:



Nguồn: Lấy từ BWTP (2008), Bảng 11, trang 19. Tác giả bổ sung thêm giai đoạn từ sau ngày 10/12/2008.

NĐ 28 và NĐ 165, cơ sở pháp lý đầu tiên để thương mại hoá hoạt động TCVM thông qua hai hình thức: chuyển đổi hoặc thành lập mới. Trong đó, chuyển đổi là “quá trình một TC TCVM tập trung vào tín dụng (một NGO hoặc một dự án) thành lập hoặc trở thành một trung gian tài chính nhận tiền gửi được điều tiết theo khuôn khổ luật pháp”19. Chuyển đổi trong thực tế tại Việt Nam là việc các tổ chức, chương trình, dự án TCVM phi lợi nhuận, hoạt động chủ yếu là cấp tín dụng bằng vốn tự có và các nguồn tài trợ và huy động tiết kiệm từ những người vay vốn như một biện pháp đảm bảo trở thành các TC TCVM chính thức, với hình thức công ty TNHH, có thể nhận tiền gửi từ công chúng và hoạt động dưới sự điều tiết của NHNN. NĐ 28 ra đời là khởi đầu chính sách thương mại hoá từng bước hoạt động TCVM, cho phép TCVM hoạt động như một ngành kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận, theo đúng xu hướng và kinh nghiệm của thế giới được tổng kết dưới đây:


Thông qua việc cho phép các TC TCVM huy động tiền gửi từ công chúng - nguồn vốn thị trường, TCVM Việt Nam đã được thương mại hoá. Tuy vậy, còn nhiều nội dung trong các chính sách chưa phù hợp với quá trình này.

1.2. Nội dung đánh giá các chính sách tài chính vi mô 

Nghiên cứu này chọn lựa phân tích, đánh giá một số nội dung như điều kiện thành lập và hoạt động, cơ cấu tổ chức và sở hữu của các TC TCVM; cơ chế lãi suất, các kênh huy động vốn và chính sách về thuế TNDN đối với các tổ chức này. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng phân tích tác động của các chính sách đối với khả năng tiếp cận người nghèo, động cơ chuyển đổi thành TC TCVM chính thức hoặc gia nhập thị trường này thông qua việc các chủ thể tham gia thành lập các TC TCVM mới.

Các văn bản làm cơ sở cho nghiên cứu chủ yếu gồm NĐ 28, NĐ 165 về tổ chức và hoạt động của các TC TCVM trong mối quan hệ với Luật các TCTD và các văn bản pháp luật có liên quan khác.

Một điều đáng lưu ý: do NĐ 28 và NĐ 165 đều ra đời trước Luật các TCTD và Đề án xây dựng và phát triển hệ thống TCVM Việt Nam đến năm 2020 do Thủ tướng phê duyệt theo Quyết định số 2195/QĐ-TTg, ngày 06/12/2011, khi “chưa có bất kỳ một chiến lược quốc gia nào về phát triển TCVM ở Việt Nam. Các nguyên tắc cơ bản cho một ngành TCVM hoạt động có hiệu quả với nền móng vững chắc cũng không được áp dụng rộng rãi trong quá trình hoạch định chính sách”20. Vì vậy, trong bối cảnh chính sách không chắc chắn và khó tiên liệu đó, các chủ thể sẽ chọn cách hành xử an toàn và có lợi hơn, thay vì gia nhập ngành thông qua việc thành lập TC TCVM, họ sẽ chọn hướng đi khác và chỉ thực hiện việc thành lập TC TCVM khi môi trường luật pháp ổn định, chắc chắn và có tầm nhìn xa hơn.

2. Đánh giá điều kiện thành lập và cơ cấu của tổ chức tài chính vi mô 

2.1. Điều kiện thành lập tổ chức tài chính vi mô 

Trong các điều kiện thành lập TC TCVM, điều kiện về chủ thể là một trong những yếu tố quan trọng nhất, xác định quyền tham gia vào dịch vụ này. Khoản 2, Điều 1, NĐ 28 xác định chủ thể được phép thành lập TC TCVM bao gồm: TC CT-XH, TC XH, TC XH-NN của Việt Nam, quỹ từ thiện và quỹ xã hội; Tổ chức phi chính phủ Việt Nam. Khoản 3 quy định thêm: “Các cá nhân và tổ chức khác trong nước và nước ngoài có thể tham gia góp vốn với các tổ chức thuộc đối tượng quy định tại khoản 2 Điều này”.

Nội dung quy định này mang tính lịch sử - thực tế, thận trọng, đồng thời được sử dụng như một công cụ áp chế tài chính, hạn chế sự gia nhập ngành của nhiều chủ thể khác, kể cả các chủ thể có tiềm lực tài chính và năng lực chuyên môn về hoạt động tài chính nói chung như các NHTM, các NGO quốc tế. Hoạt động TCVM được du nhập vào Việt Nam từ những năm 1990 như những chương trình hành động của các TC CT-XH tham gia vào công cuộc xoá đói giảm nghèo, điển hình là TYM của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, CEP của Liên đoàn Lao động (LĐLĐ) thành phố Hồ Chí Minh (TP. HCM). Có thể xuất phát từ thực tế này, cùng với việc “mở cửa” ngành TCVM một cách thận trọng nên Chính phủ đã có những ràng buộc như trên. Tuy nhiên việc không quy định rõ cấp nào của TC CT-XH và các tổ chức khác được thành lập TC TCVM đã gây ra những hệ lụy trong quá trình thực hiện thủ tục đề nghị cấp giấy phép, gây khó khăn cho cấp tỉnh và các cấp dưới của các tổ chức này khi họ đề nghị cấp phép thành lập TC TCVM với tư cách chủ sở hữu. Mặc dù pháp luật đã quy định công đoàn từ cấp cơ sở trở lên có tư cách pháp nhân 21, nhưng LĐLĐ TP.HCM vẫn phải được ủy quyền từ Tổng LĐLĐ Việt Nam khi thực hiện thủ tục đề nghị NHNN cấp giấy phép thành lập TC TCVM trên cơ sở chuyển đổi Quỹ CEP (Phụ Lục 4). Điều này thể hiện sự thiếu rõ ràng trong quy định, làm gia tăng chi phí và thời gian được cấp phép, cản trở sự tham gia vào hoạt động TCVM của các chủ thể.

Hạn chế gia nhập ngành sẽ không thúc đẩy phát triển thị trường TCVM chính thức cho người nghèo, thiếu nguồn cung sẽ buộc họ tiếp cận thị trường “tín dụng đen” lãi suất cao. Mặt khác, hoạt động TCVM không phải là chức năng chính của các tổ chức được phép thành lập TC TCVM nêu trên, họ cũng không thực hiện hoạt động này vì mục tiêu lợi nhuận nên rất khó để khuyến khích họ chuyển đổi thành TC TCVM chính thức với hình thức công ty – vì lợi nhuận. Các chủ thể khác chỉ có thể tham gia góp vốn khi có sự đồng ý của các TC CT-XH, TC XH chứ không thể độc lập và tự do trong việc thành lập TC TCVM. Để có sự đồng ý trong trường hợp này là rất khó, vì họ không cùng mục đích khi thực hiện hoạt động TCVM: một bên chủ yếu vì mục tiêu xã hội, một bên vì lợi nhuận.

Tính chất áp chế tài chính còn thể hiện ở khía cạnh: thông qua các TC CT-XH, chủ sở hữu của TC TCVM, Nhà nước có thể chỉ định phân bổ tín dụng, tham gia sở hữu hoặc quản lý vi mô đối với các tổ chức này. Điều này dường như ngược lại xu thế chung hiện nay là giảm sự can thiệp, thu hẹp phạm vi để tăng hiệu quả hoạt động của Nhà nước, vì bản chất các TC CT-XH vẫn hoạt động có tính nhà nước. Thực chất, NĐ 28 và NĐ 165 là cơ sở cho quá trình thương mại hoá TCVM thông qua việc cho phép các quỹ XH, các chương trình dự án chỉ tập trung vào tín dụng (hỗ trợ vốn) thành các trung gian tài chính có điều tiết của NHNN, thông qua việc cho phép họ huy động tiền gửi từ công chúng và cho vay lại như các NHTM. Nhưng các văn bản này lại thể hiện sự mâu thuẫn khi cho phép và khuyến khích chủ thể hạn chế nguồn lực và khả năng chuyên môn về hoạt động tài chính được thành lập TC TCVM, ngược lại chủ thể có năng lực chuyên môn và tài chính lại không thể tự thành lập TC TCVM như NHTM, NGO, hoặc nếu có góp vốn thành lập TC TCVM, họ phải tốn nhiều chi phí hơn trong quá trình đàm phán thành lập và vận hành TC TCVM. Điều này tác động lệch lạc đến thị trường, khi các chủ thể có thể chọn lựa cách thức khác để tham gia hoạt động TCVM như đăng ký hoạt động dưới hình thức quỹ TDND, công ty tài chính. Nhà đầu tư sẵn sàng đầu tư vào nơi trật tự pháp luật chưa an toàn, chi phí cao nhưng lợi nhuận thu được thỏa mãn kỳ vọng của họ 22. Như vậy, điều kiện ràng buộc trên chủ yếu làm nền tảng để chuyển đổi các tổ chức có hoạt động TCVM, chưa khuyến khích các chủ thể khác thành lập các TC TCVM mới.

Một trong những điều kiện để được NHNN cấp giấy phép thành lập TC TCVM là mức vốn pháp định 5 tỉ đồng. Theo số liệu thống kê năm 2009, trong 18 TC TCVM, 16 tổ chức có chủ sở hữu là TC CT-XH có quyền đăng ký chuyển đổi . Tuy nhiên, có 9 tổ chức có hiệu số giữa tổng tài sản và nguồn tiết kiệm dưới 5 tỉ đồng, nghĩa là có ít nhất 9/18 chiếm 50% trong số các tổ chức này không đủ điều kiện về vốn pháp định để chuyển đổi thành TC TCVM chính thức (Phụ lục 2). Trong số 9 tổ chức còn lại, tính đến ngày 01/3/2012 chỉ có 02 tổ chức thực hiện chuyển đổi. Như vậy vướng mắc không chỉ là vấn đề ràng buộc về chủ thể được thành lập và vốn pháp định, bên cạnh đó còn có nhiều nội dung chưa phù hợp.

Với nguồn vốn 972,6 tỉ đồng, trong đó vốn chủ sở hữu là 293,3 tỉ đồng tính đến 31/12/2011 (Phụ lục 6), CEP đủ điều kiện về chủ thể để có thể chuyển đổi thành TC TCVM chính thức. Nhưng điều này đồng nghĩa với việc chuyển từ một TC XH sang mô hình công ty, tính chất xã hội, phi lợi nhuận đã xác định trong điều lệ sẽ không còn hoặc bị chi phối, việc thu hút các nguồn tài trợ và vốn giá rẻ từ Chính phủ và các tổ chức quốc tế sẽ bị ảnh hưởng mạnh, uy tín của chủ sở hữu bị giảm sút khi nguồn vốn hình thành phần lớn là nhờ tài trợ và nguồn tích lũy được không bị đánh thuế, nay chuyển sang để kinh doanh sinh lời. Mặt khác chuyển đổi sẽ đối mặt với mức thuế TNDN 20%26, trong khi lợi ích từ việc chuyển đổi vẫn chưa rõ ràng.

2.2. Loại hình doanh nghiệp và cơ cấu tổ chức 

Loại hình doanh nghiệp và cơ cấu của TC TCVM theo NĐ 28 và NĐ 165 còn bất cập, không đáp ứng hầu hết các tiêu chí của RIA được lựa chọn để đánh giá, đặc biệt là tính không tương thích với Luật doanh nghiệp (Luật DN) hiện hành, cơ sở pháp luật và thực tiễn không chắc chắn, làm gia tăng chi phí thành lập và vận hành TC TCVM.

Theo NĐ 165, TC TCVM là doanh nghiệp, được thành lập dưới hình thức công ty TNHH một hoặc nhiều thành viên. Về cơ cấu tổ chức của TC TCVM gồm có Hội đồng thành viên (HĐTV) hoặc chủ sở hữu, Hội đồng quản trị (HĐQT), Ban kiểm soát (BKS) và Tổng Giám đốc (Giám đốc) và bộ máy giúp việc. Theo Luật DN, và Luật các TCTD, tổ chức tín dụng thành lập dưới hình thức công ty TNHH không bắt buộc phải có HĐQT trong cơ cấu tổ chức. Sự không thống nhất này phản ánh thực tế không chắc chắn của chính sách, pháp luật, làm giảm sự sẵn sàng chuyển đổi của các TC TCVM. Mặt khác, quy định phải có HĐQT và BKS trong cơ cấu tổ chức của TC TCVM là cứng nhắc và thiếu linh hoạt, làm cho bộ máy kồng kềnh, kém hiệu quả, đặc biệt đối với các TC TCVM có quy mô nhỏ. Theo số liệu thống kê ngành TCVM 2009, một nhân viên tín dụng quản lý trung bình khoảng 2,273 tỉ đồng dư nợ29, với một TC TCVM có mức vốn đúng bằng vốn pháp định (5 tỉ đồng), nếu cho vay hết sẽ cần hai nhân viên tín dụng, trong khi cơ cấu TC TCVM có tối thiểu ba thành viên BKS, ba thành viên HĐQT, giám đốc, kế toán trưởng, chưa kể HĐTV (hoặc chủ tịch công ty). Như vậy tỉ lệ nhân viên so với quản lý, giám sát là ¼, rất bất hợp lý và thiếu hiệu quả.

Vị trí và quyền hạn của BKS của TC TCVM theo NĐ 28 đã bị thu hẹp so với Luật doanh nghiệp 2005. Theo đó, BKS là cơ quan giúp việc cho HĐQT chứ không phải thay mặt chủ sở hữu giám sát HĐQT và hoạt động điều hành của Giám đốc như Luật doanh nghiệp quy định và triết lý tổ chức công ty nói chung. Điều này không thể đảm bảo cho hoạt động của các TC TCVM được an toàn, hiệu quả, giải quyết tốt các xung đột lợi ích giữa HĐQT và chủ sở hữu khi mọi quyết định của HĐQT nằm ngoài tầm giám sát bởi BKS.

Cơ cấu tổ chức cồng kềnh, nhiều tầng nấc sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả và tốc độ của việc ra quyết định, gia tăng chi phí thành lập và vận hành, gây khó khăn cho cả doanh nghiệp và các cơ quan quản lý đăng ký kinh doanh, cản trở quá trình chuyển đổi của các TC TCVM cũng như sự gia nhập thị trường của các chủ thể mới.

CEP đã thực hiện thủ tục chuyển đổi từ năm 2008 với hình thức công ty TNHH một thành viên. Tuân thủ NĐ 165, LĐLĐ TP. HCM đã mời đại diện một số cơ quan, ban ngành của Thành phố tham gia HĐQT, không phải với tư cách đại diện cho vốn chủ sở hữu, chủ yếu là đáp ứng yêu cầu của pháp luật. Với sự ra đời của Luật các TCTD, CEP đã chủ động tạm ngưng chuyển đổi, dù đã tốn nhiều chi phí cho việc chuẩn bị chuyển đổi, “chờ” chính sách tiếp theo của nhà nước.

3. Đánh giá chính sách về hoạt động của tổ chức tài chính vi mô 

3.1. Lãi suất 

Lãi suất được xác định là một công cụ quan trọng để NHNN điều hành chính sách tiền tệ, chống cho vay nặng lãi thông qua việc công bố lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cơ bản và các loại lãi suất khác nhằm hạn chế các thất bại của thị trường. NHNN có thể quy định cơ chế điều hành lãi suất áp dụng trong các quan hệ tín dụng khi thị trường tiền tệ bất ổn31. Tuy vậy, bản chất lãi suất là chi phí sử dụng vốn, “là giá cả mà người vay phải trả cho việc sử dụng vốn của người cho vay trong một khoảng thời gian nhất định”32, nên cơ chế lãi suất thoả thuận đã dần hình thành và được thiết lập trong hoạt động của các tổ chức tín dụng nói chung, đặc biệt kể từ tháng 4 năm 2010, NHNN đã cho phép TCTD cho vay theo lãi suất thỏa thuận đối với hầu hết các nhu cầu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đầu tư phát triển và đời sống.

Đối với các TC TCVM đã chuyển đổi, cơ chế lãi suất thỏa thuận chỉ áp dụng kể từ 01/01/2011, khi Luật các TCTD có hiệu lực, trong đó xác định các TC TCVM là tổ chức tín dụng. Các tổ chức có hoạt động TCVM không chuyển đổi, vẫn chịu tác động của lãi suất trần theo quy định tại Điều 476 Bộ luật dân sự 2005: lãi suất cho vay không quá 150% lãi suất cơ bản. NHNN đã chính thức xác nhận: tổ chức có hoạt động TCVM chưa được cấp giấy phép thì không phải là tổ chức tín dụng, hoạt động huy động vốn và cho vay của các tổ chức này là giao dịch dân sự, lãi suất cho vay vẫn phải tuân thủ Điều 476 Bộ luật dân sự 200534.

Cơ chế lãi suất thỏa thuận thúc đẩy tính bền vững về tài chính và qua đó khuyến khích các tổ chức có hoạt động TCVM chuyển đổi, đồng thời phân tách đối tượng khách hàng giữa TC TCVM chuyển đổi và các tổ chức còn lại cũng như mức lãi suất tương ứng mà họ phải chịu khi vay tiền từ hai nhóm tổ chức này. Tuy vậy, các tổ chức có hoạt động TCVM được khuyến khích chuyển đổi chủ yếu là “con” của các TC CT-XH, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận mà chủ yếu là hỗ trợ vốn cho các hội viên nghèo nhất, giúp họ tạo việc làm, cải thiện thu nhập. Vì vậy, các tổ chức này thiếu và thậm chí không có lý do chính đáng để bảo vệ phương pháp tiếp cận mang nặng tính thương mại đối với hoạt động TCVM, đó cũng là lý do cản trở họ chuyển đổi dù có những lợi ích từ việc này.

Ngược lại, nếu không chuyển đổi, với mức lãi suất cơ bản 9%/năm hiện nay, theo Bộ Luật dân sự, các tổ chức có hoạt động TCVM này chỉ được cho vay với lãi suất không quá 13,5%/năm, thấp hơn cả mức trần lãi suất huy động vốn bằng tiền động 14%/năm của các tổ chức tín dụng và 14,5%/năm của các quỹ TDND, điều này hoàn toàn không hợp lý và khả thi, vì nếu tuân thủ quy định đồng nghĩa với việc phá vỡ tính bền vững về tài chính – khả năng sống còn của các tổ chức này. Để đảm bảo an toàn và bền vững trong hoạt động, họ sẽ hạn chế cung cấp tín dụng đối với những khu vực kém phát triển và tiềm ẩn nhiều rủi ro như nông thôn, miền núi, ven đô thị và những khách hàng nghèo, không có tài sản đảm bảo. Thay vì vậy, họ chỉ cung cấp dịch vụ TCVM đối với nhóm khách hàng an toàn, hoặc tìm cách chuyển dần chi phí giao dịch cho người vay thông qua cơ cấu lại lãi suất và phí đối với một khoản vay và sẽ điều chỉnh lãi suất huy động tiết kiệm theo hướng thấp hơn.

Trên thực tế, hầu hết các sản phẩm tín dụng của các TC TCVM (ngoại trừ Ngân hàng CSXH) đều có lãi suất vượt quá 150% lãi suất cơ bản theo quy định của Bộ luật dân sự, nhưng rất hiếm thấy tranh chấp liên quan đến lãi suất giữa người vay và người cho vay. Theo BWTP, người nghèo có khả năng vay vốn theo lãi suất thị trường, yếu tố quan trọng nhất trong quyết định vay vốn của họ không phải là lãi suất mà chính là khả năng tiếp cận lâu dài các dịch vụ tài chính ổn định và tin cậy.

Mặt khác phương pháp tiếp cận và cho vay của TCVM khác biệt rất lớn so với NH bởi những đặc trưng như chi phí cao và rủi ro cao. Do khoản vay nhỏ lẻ nên chi phí quản lý dư nợ cao hơn nhiều so với NH, phương thức hoạt động “tín dụng tận ngõ” sẽ giảm tối thiểu chi phí cho khách hàng nhưng tăng chi phí cho TC TCVM. Hoạt động TCVM thường không có tài sản thế chấp, vì khách hàng thường là những người nghèo và nghèo nhất, không có tài sản có giá trị để bảo đảm, đây là những khách hàng mà ngân hàng (kể cả NH chính sách xã hội) không tiếp cận hoặc không muốn tiếp cận. Chi phí cao, rủi ro cao, cần phải có một mức lãi suất hợp lý để bù đắp và đảm bảo bền vững tài chính là cần thiết. Một cách hình tượng, hoạt động cho vay của NH là “bán sỉ”, hoạt động cho vay của TC TCVM là “bán lẻ”, giá cả trong hai trường hợp này là khác nhau, vì vậy cần có khung lãi suất khác nhau.

CEP hiện đang áp dụng lãi suất bình quân 1%/tháng và 0,25%/tuần trên dư nợ ban đầu cho loại hình vay trả góp hằng tháng, thời hạn 10 tháng và hằng tuần, thời hạn 40 tuần. Nếu quy đổi ra lãi suất theo dư nợ giảm dần bằng tỉ suất nội hoàn (IRR) của dòng tiền gồm cho vay và thu hồi, mức lãi suất tương đương theo dư nợ giảm dần là 1,77%/tháng (23,46%/năm) đối với vay trả góp hằng tháng và 0,47%/tuần, 2,04%/tháng (27,49%/năm) đối với vay trả góp hằng tuần (Phụ lục 8). Mức lãi suất này cao hơn nhiều so với mức trần của Bộ Luật dân sự, nhưng đã bao gồm phí thu hộ, chi hộ và cũng chỉ đủ bù đắp chi phí và bảo toàn vốn vì chênh lệch không đáng kể lãi suất huy động tiền gửi. Nhiều TC TCVM tại Việt Nam áp dụng mức lãi 2,78%/tháng tương đương 33,36%/năm, thực tế còn cao hơn do có thể đi kèm các khoản phí. Lãi suất cho vay danh nghĩa của các chương trình TCVM hàng đầu trên thế giới giao động từ 20%/năm đến 55%/năm tùy theo mỗi quốc gia, trong khi lạm phát tương ứng từ 2,7%/năm đến 12,4%/năm thấp hơn so với Việt Nam (Phụ lục 5). Như vậy, mức lãi suất các TC TCVM ở Việt Nam đang áp dụng, so với thế giới là trung bình thấp.

Trong bối cảnh đó, các khoản vay của NH CSXH có lãi suất từ 0%/năm đến 10,8%/năm, chỉ tương đương ½ mức lãi suất thị trường được các TC TCVM áp dụng, thấp hơn mức lãi suất huy động của các NHTM 14%/năm, vừa không đảm bảo yếu tố bền vững của chính ngân hàng này, buộc nó phải nhận trợ cấp “cả đời” từ nguồn thu thuế của dân, vừa làm biến dạng động cơ vay vốn của người dân, làm méo mó thị trường. Trong trường hợp này người dân có thể và sẵn sàng vay của NHCS để gửi NHTM và hưởng chênh lệch, chứ chưa hẳn là sử dụng vốn hiệu quả để sản xuất, nâng cao đời sống! Sự không nhất quán về chính sách lãi suất, cùng với việc áp dụng lãi suất ưu đãi không dựa trên cơ sở thị trường và nguyên tắc bền vững về tài chính của ngân hàng CSXH đã tác động lệch lạc tới thị trường, hạn chế cạnh tranh, kéo thấp lãi suất cho vay của TC TCVM nói chung, làm giảm khả năng bền vững về tài chính, mở rộng hoạt động và sự tăng trưởng của các tổ chức này.

3.2. Chính sách về phí 

Thông tư 02 quy định TC TCVM được cung ứng một số dịch vụ thanh toán như chuyển tiền, thu hộ, chi hộ và tư vấn hỗ trợ trong việc quản lý và sử dụng đồng vốn hiệu quả cho khách hàng, các dịch vụ này được thực hiện theo quy định của TC TCVM và phù hợp với quy định của NHNN. Tuy vậy, hiện nay NHNN chưa có chính sách cụ thể nào về phí đối với các dịch vụ trên. Dựa trên sự khác biệt trong phương pháp hoạt động của TCVM so với hoạt động tài chính tín dụng thông thường để đặt ra mức phí thu hộ, chi hộ là chưa phù hợp. Sự khác biệt này chính là phương pháp đặc trưng của người nghèo thiếu thông tin và phương tiện, đồng thời tiết kiệm chi phí cho cả khách hàng và TC TCVM nhờ vào cơ chế nhóm tương hỗ. Mặc dù vậy, chi phí giao dịch trong TCVM rất lớn so với ngân hàng, đặc biệt so sánh giữa chi phí giao dịch trên vốn vay, do vậy mức lãi suất thường cao hơn hoạt động ngân hàng để bù đắp chi phí.

Dịch vụ thu hộ, chi hộ trong TCVM là có thật và khác biệt so với ngân hàng nhưng tách phí của các dịch vụ này ra khỏi lãi suất vừa không phù hợp với thực tế hoạt động của TCVM, tạo ra thêm chi phí quản lý và vận hành trong hoạt động của các tổ chức này, vừa giảm sự minh bạch trong chính sách lãi suất và quan hệ vay vốn của người nghèo, dễ phát sinh tiêu cực thông qua việc duy trì lãi suất thấp nhưng lại tăng các khoản phí để bù đắp chi phí.

Đối với các tổ chức có hoạt động TCVM không chuyển đổi, việc khống chế lãi suất trần theo Điều 476 Bộ Luật dân sự sẽ khiến họ “thiết kế” các khoản phí khác nhau nhằm bù đắp chi phí và đạt được mức lợi nhuận kỳ vọng để có thể đảm bảo bền vững về tài chính. Như vậy, suy cho cùng, khách hàng vẫn phải trả một mức chi phí theo kỳ vọng của TC TCVM, bao gồm lãi suất và phí để tiếp cận được khoản vay. Điều này gần như bắt buộc vì thu hộ và chi hộ là một phần trong phương pháp TCVM. Khách hàng sẽ chấp nhận phí không chỉ vì như vậy mới tiếp cận được khoản vay, mà còn vì mức phí thu hộ và chi hộ đó rẻ hơn chi phí họ phải bỏ ra khi tự thực hiện việc nhận và nộp tiền tại trụ sở của các tổ chức này, do TC TCVM được hưởng lợi thế nhờ quy mô và sử dụng sức mạnh của mô hình nhóm tương trợ. Không có hoặc ít các khoản phí trong TCVM, NHNN có điều kiện kiểm tra giám sát dễ dàng hơn, các khoản thu chi minh bạch hơn, TC TCVM giảm thiểu các khoản chi phí quản lý, thúc đẩy cạnh tranh, nhờ đó lãi suất thực tế khách hàng phải trả sẽ giảm.

3.3. Các kênh huy động vốn 

Hiện nay, kênh huy động vốn ổn định và lâu dài của TCVM gồm nhận tiết kiệm bắt buộc và tiền gửi tự nguyện bên cạnh các nguồn khác như vay vốn, tiếp nhận vốn uỷ thác theo các chương trình, dự án, nhận tài trợ. Luật các TCTD và các văn bản về TCVM đều xác định tiết kiệm bắt buộc là một biện pháp bảo đảm, nên không quy định cụ thể mức lãi suất tương ứng mà dành quyền này cho TC TCVM. Trên thực tế, ở Việt Nam cũng như ở các nước khác, nguồn tiền gửi của khách hàng TCVM (bao gồm tiết kiệm bắt buộc và tiền gửi tự nguyện) là kênh huy động vốn ổn định và quan trọng nhất, đặc biệt đối với các tổ chức tiến tới bền vững về tài chính. Theo số liệu thống kê năm 2009 của Nhóm công tác TCVM Việt Nam, với 18 tổ chức được khảo sát, số dư tiết kiệm chiếm 27% tổng tài sản, một số tổ chức tỉ lệ này lên đến trên 60%45. Đối với CEP, tiết kiệm chiếm tỉ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn so với vốn chủ sở hữu và các khoản nợ khác và luôn tăng đều từ năm 2008 đến nay. Năm 2008 tiết kiệm chiếm 25,5% tổng nguồn vốn, tương đương 78,8% vốn chủ sở hữu của CEP. Năm 2011, tiết kiệm chiếm 38,7% tổng nguồn vốn, tương đương 128,3% vốn chủ sở hữu, trở thành nguồn chủ lực và quan trọng nhất đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động của CEP.

Về kinh nghiệm quốc tế, theo số liệu hoạt động năm 2010 của GB, tổng số tiền gửi chiếm 83,8% tổng nguồn vốn, trong đó riêng tiết kiệm của khách hàng đang vay vốn chiếm 45,2%, phần còn lại là tiền gửi của khách hàng không vay vốn. Nhờ vào nguồn này, GB thôi nhận tài trợ kể từ năm 1995, thôi vay vốn theo lãi suất thị trường kể từ năm 1998 mà vẫn đảm bảo có đủ vốn để mở rộng hoạt động cho vay nhờ nguồn tiền tiết kiệm huy động được.

Để tự bền vững về tài chính, không phụ thuộc vào các nguồn trợ cấp và tài trợ, hoạt động TCVM phải được đảm bảo từ các nguồn tiết kiệm bắt buộc của khách hàng TCVM và nguồn tiền gửi từ công chúng. Tuy nhiên, các văn bản về TCVM hiện nay chưa quy định cụ thể về huy động tiền gửi tự nguyện từ công chúng đối với các tổ chức đã chuyển đổi và đăng ký hoạt động chính thức, trong khi NĐ 165 và Thông tư 02 yêu cầu các TC TCVM không chuyển đổi ngưng huy động và hoàn trả hết tiền gửi tự nguyện của khách hàng không vay vốn khi đến hạn; giảm quy mô huy động tiết kiệm bắt buộc và tiền gửi tự nguyện của các khách hàng có vay vốn xuống dưới 50% vốn tự có, đồng thời phải gửi vào ngân hàng số tiền gửi tự nguyện, chỉ được phép rút ra nhằm mục đích hoàn trả cho khách hàng gửi tiền.

Quy định này có phần khiên cưỡng và không khả thi trên thực tế. Hiện nay, số khách hàng không vay vốn và gửi tiền cho TC TCVM rất ít, do đặc thù của hoạt động này là cung cấp tín dụng song hành với tiết kiệm để giảm thiểu chi phí giao dịch. Họ chủ yếu là những người từng vay vốn của TC TCVM và tiếp tục tham gia dịch vụ tiết kiệm góp định kỳ. Ngược lại, nguồn tiết kiệm bắt buộc và tiền gửi tự nguyện của khách hàng có vay vốn giữ vai trò tối quan trọng trong hoạt động TCVM. Tín dụng - tiết kiệm là hai hoạt động luôn song hành trong hoạt động này tương tự như nguồn nguyên liệu đầu vào và sản phẩm đầu ra của doanh nghiệp sản xuất. Yêu cầu giảm quy mô huy động tiết kiệm bắt buộc và tiền gửi tự nguyện đồng nghĩa với việc giảm quy mô cho vay xuống dưới khả năng hiện có, giảm tính tự chủ về nguồn vốn của TC TCVM và thu hẹp một kênh cung cấp dịch vụ tài chính thích hợp cho người nghèo. Hiện nay, tổng số dư tiết kiệm của CEP bằng 128,3% vốn chủ sở hữu, tỉ lệ này còn lớn hơn ở một số tổ chức chưa chuyển đổi khác như PPC Hà Tĩnh, Chương trình Tín dụng Tiết kiệm Phù Yên, Sơn La (trên 150%)50. Nếu cắt giảm theo yêu cầu xuống dưới 50% vốn tự có, tác động trên toàn ngành rất lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và mưu sinh của người nghèo. Nếu tuân thủ yêu cầu này, chỉ riêng trong năm 2011 sẽ có 27 nghìn hộ nghèo không được tiếp tục tiếp cận nguồn vốn từ CEP (xem số liệu tại Phụ lục 6). Cụ thể:



Như vậy, không chỉ CEP, kể cả khách hàng của nó - những người nghèo không được tiếp cận vốn sẽ rơi và cuộc khủng hoảng thực sự: đói vốn và mất cơ hội!

Mục tiêu, cơ sở thực tiễn của quy định này không chắc chắn và rõ ràng. Nếu hạn chế huy động tiết kiệm bắt buộc và tiền gửi để đảm bảo an toàn cho hoạt động của TC TCVM và bảo vệ công chúng khỏi những rủi ro có thể lại càng thiếu bằng chứng thuyết phục. Thực tiễn an toàn trong hoạt động TCVM dựa trên tỉ lệ hoàn vốn hoặc tỉ lệ dư nợ có nợ quá hạn trên tổng dư nợ (PAR: Portfolio at Risk). Số liệu thống kê của CEP từ năm 1992 đến 2011 cho thấy tỉ lệ PAR trên 30 ngày cao nhất là 3,63% vào năm 1994 và đạt bình quân là 1,8%. PAR liên tục giảm dần từ 0,99% đến 0,39% từ 2007 đến 2011, nghĩa là tỉ lệ hoàn vốn luôn đạt trên 99% trong khoảng thời gian trên. Tương tự, PAR của TYM từ 2009 đến 2011 cũng chỉ giao động từ 0,03% đến 0,06%, nghĩa là tỉ lệ hoàn vốn cũng đạt trên 99%52. Vậy tại sao họ không thể huy động vốn từ công chúng và phải giảm quy mô huy động tiết kiệm từ những người rất tin cậy họ, cùng họ đồng hành qua một quá trình gian truân để vượt lên nghèo đói?

Việc yêu cầu “gửi vào ngân hàng số tiền gửi tự nguyện, chỉ được phép rút ra nhằm mục đích hoàn trả cho khách hàng gửi tiền” vừa làm tăng chi phí, giảm nguồn vốn cho các TC TCVM, vừa giảm cơ hội tiếp cận vốn của người nghèo. Có thể đã nhận ra những bất cập của quy định này nên mặc dù các TC TCVM không chuyển đổi đã không chấp hành quy định về giảm quy mô huy động tiết kiệm bắt buộc và tiền gửi tự nguyện của các khách hàng có vay vốn xuống dưới 50% vốn tự có và họ cũng không gửi số tiền này vào ngân hàng trong hơn 4 năm qua kể từ khi NĐ 165 có hiệu lực, NHNN vẫn chưa có biện pháp can thiệp nào.

Kinh nghiệm của GB và những kiến giải của Giáo sư Muhammad Yunus có thể mang lại nhiều gợi ý về mặt chính sách. Tỉ lệ hoàn trả của GB thường đạt khoảng 98%. Ngân hàng này có quyền huy động vốn từ công chúng, cùng với tiền gửi của khách hàng vay vốn, tạo nên 83,8% tổng nguồn vốn53, giúp họ không chỉ tự vững về tài chính, không cần tiếp cận các khoản vay thương mại nhưng vẫn đảm bảo nguồn cung giá rẻ. Giáo sư Muhammad Yunus từng đặt câu hỏi: “một hiện tượng rất lạ ở nhiều nước chứng kiến các ngân hàng chính thống với tỷ lệ hoàn trả dưới 70% lại được phép tiếp nhận các khoản tiết kiệm khổng lồ từ công chúng năm này qua năm khác, nhưng các tổ chức tín dụng nhỏ với tỷ lệ hoàn trả liên tục trên 98% lại không được phép huy động tiết kiệm từ công chúng”. Từ đó, ông đề xuất tạo ra khuôn khổ luật pháp cho phép các chương trình tín dụng nhỏ được huy động tiết kiệm từ công chúng, bao gồm các chương trình của các NGO.

Để có thể xây dựng hệ thống các TC TCVM an toàn, bền vững và tự chủ, đóng góp tích cực hơn và công cuộc giảm nghèo, không có con đường nào bền vững và khả thi hơn việc xây dựng các chính sách phù hợp, để họ có thể huy động vốn từ những khách hàng vay vốn và từ công chúng.

3.4. Thuế thu nhập doanh nghiệp và các chính sách ưu đãi về thuế 

Hiện nay, tùy thuộc vào mục tiêu hoạt động, tình trạng chịu thuế và mức thuế suất thuế TNDN tương ứng với từng loại hình tổ chức thực hành TCVM có sự khác biệt lớn. Phụ lục 9 mô tả chi tiết tình trạng chịu thuế và thuế suất của các tổ chức này. Trong đó, các tổ chức có hoạt động TCVM không vì mục tiêu lợi nhuận được miễn thuế. Hoạt động của nhóm các tổ chức này chủ yếu nhằm giải quyết thất bại thị trường trong việc cung cấp vốn phục vụ người nghèo với lãi suất thấp.

Tuy nhiên, trong khi pháp luật quy định rõ NH CSXH được miễn thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước, các chương trình, dự án TCVM lập ra để chủ yếu thực hiện mục tiêu nhân đạo xã hội cũng được miễn thuế 57, nhưng cơ sở pháp luật để miễn thuế cho các quỹ XH vẫn chưa cụ thể, dù trên thực tế các tổ chức này hoàn toàn miễn thuế, có thể vì hoạt động của họ không vì mục tiêu lợi nhuận, không phải là hoạt động kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi. Việc không quy định rõ chế độ thuế (miễn thuế hay phải nộp thuế) của các tổ chức này sẽ là khe hở cho sự tuỳ tiện và nhũng nhiễu từ phía người thực thi công quyền. Mặt khác nếu hoạt động của các quỹ XH, các chương trình, dự án TCVM không được kiểm tra, giám sát chặt chẽ theo đúng mục tiêu phi lợi nhuận đã đăng ký, sẽ có nguy cơ tạo ra khe hở để họ trốn thuế bằng “vỏ bọc” pháp lý của mình khi mục tiêu thực chất là lợi nhuận hoặc đăng ký hoạt động phi lợi nhuận trong một khoảng thời gian nhất định, sau đó chuyển đổi tư cách pháp nhân thành TC TCVM theo NĐ 28.

Đối với các tổ chức nhận tài trợ để thực hiện các chương trình, dự án vì mục đích nhân đạo, xã hội “có thể lợi dụng những khoản miễn thuế này để che chắn cho các khoản thu nhập khác để không bị đánh thuế”59 nếu không thực hiện chế độ báo cáo kiểm tra hiệu quả. Chính sách miễn thuế không đi kèm với ràng buộc và giám sát thực hiện đúng “sứ mệnh xã hội” sẽ tạo ra bất công giữa họ với các tổ chức thực hiện hoạt động TCVM có chịu thuế khác. Người nghèo chưa chắc được hưởng lợi ích gián tiếp từ việc ưu đãi thuế này vì họ vẫn có thể phải chịu mức lãi suất cao hoặc không tiếp cận được tín dụng khi các tổ chức này không thực sự “phi lợi nhuận” và không sẵn sàng cho vay đối với khách hàng có rủi ro cao.

Đối với các TC TCVM, trong khoảng thời gian từ tháng 3 năm 2005 đến nay, chính sách thuế TNDN vẫn chưa ổn định, thuế suất thay đổi, việc áp dụng thuế suất chung cho các tổ chức hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận và không vì mục tiêu lợi nhuận cũng gây ra những bất cập.

Từ khi NĐ 28 ra đời tháng 3/2005 đến tháng 12/2008, mức thuế suất áp dụng cho các TC TCVM là 28%, từ tháng 1/2009 hết tháng 2/2012, mức thuế suất là 25%, ngang bằng với cho vay thương mại, cao hơn mức thuế suất áp dụng cho quỹ TDND (20%), không khuyến khích việc chuyển đổi hoạt động của các chương trình, dự án TCVM, các quỹ XH thực hành TCVM và sự gia nhập ngành của các chủ thể khác. Rủi ro cao, chi phí cao, mức thuế suất hiện hành cao sẽ không đảm bảo cho nhà đầu tư trong lĩnh vực này một mức lợi nhuận đủ để bù đắp rủi ro và chi phí. Trong khi các tổ chức có hoạt động TCVM không chuyển đổi như các quỹ XH, các chương trình, dự án TCVM đều được miễn thuế, điều này lý giải tại sao họ không sẵn sàng chuyển đổi thành TC TCVM. Nếu chính sách thuế làm giảm suất sinh lợi sau thuế từ vốn xuống thấp hơn suất sinh lợi tại khu vực khác sẽ làm tăng khả năng lưu chuyển vốn đến nơi có suất sinh lợi sau thuế không bị cắt giảm. Khi chính sách thuế không khuyến khích các chủ thể gia nhập ngành và sẵn sàng phục vụ những hộ nghèo và nghèo nhất cùng với việc hạn chế về nguồn lực của nhà nước, các tổ chức tín dụng chính thức, các tổ chức phi lợi nhuận, tín dụng “chợ đen” với lãi suất “cắt cổ” sẽ lên ngôi, chất thêm gánh nặng nợ lên người nghèo.

Từ tháng 3/2012, mức thuế suất đối với TC TCVM giảm xuống còn 20%, ngang bằng với quỹ TDND nhưng có lẽ vẫn chưa đủ thu hút các tổ chức có hoạt động TCVM chuyển đổi và sự gia nhập ngành của các chủ thể mới. Chuyển đổi sẽ giúp các TC TCVM huy động vốn từ công chúng, tự chủ hơn về nguồn vốn. Tuy vậy, vẫn chưa có một mô hình tổ chức thích hợp cho các tổ chức có hoạt động TCVM phi lợi nhuận mong muốn chuyển đổi nhưng vẫn duy trì mục tiêu phi lợi nhuận và chính sách thuế thích hợp đi kèm sau khi chuyển đổi. Đa số các tổ chức có hoạt động TCVM ở Việt Nam hiện nay hoạt động chủ yếu vì mục tiêu xã hội, phi lợi nhuận, có lẽ họ không có động cơ chuyển đổi thành một tổ chức kinh doanh, xa rời nhiệm vụ chính trị, xã hội của tổ chức chủ sở hữu, đồng thời phải chịu thêm gánh nặng thuế. Các tổ chức này sẽ thích hợp hơn với mô hình doanh nghiệp xã hội, không đặt lợi nhuận làm mục tiêu hàng đầu nhưng đòi hỏi tự bền vững về tài chính để duy trì và theo đuổi hoạt động lâu dài, cần huy động vốn từ xã hội đồng thời thỏa mãn dịch vụ tiết kiệm nhỏ cho người nghèo, nhóm này cần được miễn thuế và kiểm soát hoạt động. Như vậy dù mục tiêu hoạt động là phi lợi nhuận, họ vẫn cần chuyển đổi thành TC TCVM để có thể huy động tiền gửi từ công chúng nhằm đảm bảo sự độc lập về nguồn vốn và bền vững tài chính. Nếu khung thuế TNDN vẫn duy trì như hiện nay, mục tiêu khuyến khích sự phát triển của ngành TCVM để góp phần giảm thiểu sự bất bình đẳng trong tiếp cận nguồn vốn cho người nghèo sẽ khó thành hiện thực. Sau 7 năm kể từ ngày NĐ 28 ra đời, trên phạm vi cả nước, mới chỉ có 02 tổ chức chuyển đổi thành TC TCVM. Mục tiêu mở rộng cơ sở thuế thông qua các biện pháp ưu đãi thuế, đặc biệt là thuế suất ưu đãi và thời gian miễn giảm thuế bằng cách dịch chuyển dần hoạt động TCVM sang khu vực tư nhân theo định hướng chung của nhà nước sẽ không thành công.

Về phía những người nghèo vay vốn, chính sách thuế TNDN này cũng sẽ tác động đến họ thông qua cơ chế lãi suất. Các tổ chức cho vay sẽ tìm cách điều chỉnh lãi suất hoặc phí để đạt được mức lợi nhuận kỳ vọng. Như vậy gánh nặng thuế lại chuyển sang vai người nghèo, đặc biệt là những người nghèo nhất khi họ có rất ít cơ hội tiếp cận nhiều nguồn vốn khác nhau hay cầu về tín dụng của họ ít co giãn so với lãi suất. 

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, để tạo ra một mô hình ngân hàng xã hội phi lợi nhuận thành công như GB, chính phủ Bangladesh đã miễn thuế thu nhập cho nó kể từ khi thành lập năm 1983 đến 31/12/2010, sau đó chỉ xem xét thu thuế thu nhập đối với những hoạt động kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận (ngoài hoạt động TCVM)63. Miễn thuế, sẽ khuyến khích các TC TCVM phi lợi nhuận tiếp cận và phục vụ nhóm những người nghèo và nghèo nhất như các NGO và phi lợi nhuận đang làm ở Việt Nam hiện nay (Phụ lục 11). 

4. Thực thi chính sách 

Qua phân tích ở các phần trên, cho thấy hiệu lực thực thi của các chính sách TCVM còn yếu do thiếu đồng bộ, chưa khớp với thực tế, tạo ra nhiều chi phí hơn lợi ích.

Phụ lục 10 mô tả chi tiết sự thiếu đồng bộ dẫn đến hiệu lực thấp thể hiện trong quá trình hình thành chính sách. Theo đó những văn bản mang tính nền tảng và định hướng chiến lược cho TCVM như Luật các TCTD và Quyết định số 2195/QĐ-TTg phê duyệt Đề án xây dựng và phát triển hệ thống TCVM tại Việt Nam đến 2020 lại hình thành sau các văn bản mang tính hướng dẫn thực hiện như NĐ 28, NĐ 165, do vậy còn có sự chắp vá nội dung, sự thiếu nhất quán trong việc sử dụng các khái niệm (khái niệm TCVM thay thế cho tài chính quy mô nhỏ từ khi Luật các TCTD ra đời). Thời gian hiệu lực thi hành của chính sách đã đặt ra dường như không thực thi trên thực tế và không có biện pháp xử lý khi có vi phạm.

Nhưng bản chất của việc không chấp hành nêu trên là do sự không ăn khớp của chính sách đối với thực tiễn. Ví dụ việc yêu cầu “giảm quy mô huy động tiền gửi tiết kiệm của khách hàng TCVM xuống dưới mức 50% vốn tự có” chưa phù hợp với cơ chế hoạt động của TCVM: tín dụng – tiết kiệm là hai hoạt động song hành, giảm quy mô tiền gửi là giảm quy mô hoạt động và loại bỏ một số khách hàng hiện hữu khỏi nguồn vố họ đang tiếp cận, tương tự như ngừng nhận máu của người cho và ngừng luôn việc tiếp máu cho người bệnh đang cần máu để hồi sinh. Số liệu hoạt động của CEP năm 2010, 2011 cho thấy số dư tiền gửi tương ứng là 110,7% và 123,8% so với vốn chủ sở hữu cùng năm. Như đã phân tích tại Mục 3.3.3 luận văn này, nhiều tổ chức hoạt động TCVM ở Việt Nam có tỉ lệ tiền gửi so với vốn chủ sở hữu lớn hơn 100%. Yêu cầu gửi số tiền gửi tự nguyện vào ngân hàng và chỉ được phép rút nhằm mục đích hoàn trả cho khách hàng gửi tiền biến các tổ chức hoạt động TCVM này một trung gian giữa người gửi tiền và ngân hàng, trong khi họ đang rất cần vốn. Điều này tạo ra chi phí giao dịch, làm mất cơ hội của tổ chức thực hành TCVM và những khách hàng gửi tiền và vay tiền. Bảng cân đối tài sản 2010 của GB cho thấy: số dư tiền gửi là 105 tỉ taka, gấp 154% so với 68,4 tỉ taka cho vay, lớn hơn nhiều lần so với vốn chủ sở hữu là 7,36 tỉ taka, nhưng thực tiễn cho thấy hoạt động của họ rất an toàn.

Việc không tuân thủ lộ trình chuyển đổi của các TC TCVM còn do sự hạn chế nguồn lực của riêng họ. Vốn chủ sở hữu không đạt mức quy định (5 tỉ đồng), đội ngũ quản lý nghiệp dư chưa đáp ứng trình độ chuyên môn theo yêu cầu của pháp luật, mục tiêu hoạt động phi lợi nhuận nhưng vẫn có nhu cầu huy động tiền gửi từ công chúng vẫn chưa có mô hình để chuyển đổi. Các văn bản sửa đổi liên tục, thiếu ổn định tạo nên sự bất an và không sẵn sàng chuyển đổi.

Về phía NHNN, cơ quan quản lý hoạt động TCVM: “nguồn cán bộ giành cho TCVM đã rất khiêm tốn về nhiều mặt, lại biến động thường xuyên khiến cho việc xử lí các vấn đề về TCVM không được liên tục, chậm muộn cũng là những trở ngại đáng kể”65. Các TC TCVM được đặt dưới sự giám sát của NHNN, nhưng cơ chế giám sát thông qua cơ quan thanh tra và giám sát của NHNN vẫn chưa cụ thể. Hiện nay, bản thân cơ quan này cũng đã quá tải khi họ chịu trách nhiệm thanh tra tất cả các tổ chức tín dụng ít nhất một lần một năm 66, việc giao thêm công tác thanh, kiểm tra hoạt động TCVM lên vai họ, sẽ tăng thêm tình trạng quá tải, giảm chất lượng công tác thanh, kiểm tra.

Trên thực tế, NHNN chưa kiểm tra giám sát kỹ lưỡng hoạt động của các TC TCVM, một phần là vì các tổ chức này đa phần trực thuộc các TC CT-XH, hoạt động mang tính xã hội, không vì mục tiêu lợi nhuận, có lẽ chưa cần phải quản lý chặt. Mặt khác, nguồn lực của NHNN cũng hạn chế. Tuy vậy, xu hướng phát triển nhanh và quá trình thương mại hóa của ngành yêu cầu phải quản lý và giám sát chặt chẽ hơn. Điều này không chỉ đảm bảo an toàn cho hệ thống tài chính và bản thân các TC TCVM, quan trọng hơn là bảo vệ quyền lợi của người nghèo vay vốn, gửi tiết kiệm và minh bạch hóa hoạt động TCVM.

Về phía các TC TCVM, chưa xây dựng được một “người đại diện” thực sự của ngành TCVM tương tự như Hiệp hội ngân hàng, dù trên thực tế có sự tồn tại của Nhóm công tác TCVM thuộc Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, tồn tại như “một diễn đàn dành cho các nhà thực hành TCVM để chia sẻ kinh nghiệm và giải quyết các vấn đề khó khăn của ngành, góp phần đưa tiếng nói của ngành đến với các nhà làm chính sách” nhưng thể hiện sự thiếu chính danh, và đại diện như một hiệp hội vì thiếu vắng sự tham gia của các tổ chức có hoạt động TCVM hàng đầu (ví dự như CEP). Các tổ chức có hoạt động TCVM dường như vẫn chưa tìm được tiếng nói chung.
Previous
Next Post »