Dịch vụ viết luận văn tài chính - ngân hàng - kế toán

Dịch vụ viết luận văn tài chính - ngân hàng - kế toán

Mẫu luận văn quản lý tài chính bệnh viện

Bạn đang cảm thấy bối rối khi phải hoàn thành bài luận văn quản lý tài chính bệnh viện? Đừng lo, hãy tham khảo ngay mẫu luận văn sau đây mà luanvantaichinh.net chia sẻ trong bài viết dưới đây.

Mẫu luận văn quản lý tài chính bệnh viện

1. Các khái niệm về bệnh viện công và quản lý tài chính bệnh viện công 

1.1. Khái niệm và đặc trưng của bệnh viện công 

Từ trước đến nay, có rất nhiều quan điểm về bệnh viện công. Theo quan điểm hiện đại, bệnh viện công là một tổ chức y tế của Nhà nước với các đặc trưng sau: 

Bệnh viện là một hệ thống lớn bao gồm rất nhiều yếu tố và nhiều khâu liên quan chặt chẽ nhau từ khám bệnh, chẩn đoán, điều trị, chăm sóc. 

Bệnh viện là một tổ chức y tế có chức năng hoạt động chính là khám chữa bệnh, bao gồm các yếu tố đầu vào là người bệnh, cán bộ y tế, nguồn tài chính, trang thiết bị, thuốc cần có để chẩn đoán và điều trị. Đầu ra là người bệnh khỏi bệnh ra viện hoặc phục hồi sức khỏe; hoặc người bệnh tử vong. 

Ngoài chức năng chủ yếu là khám chữa bệnh cho nhân dân, bệnh viện công còn có chức năng đào tạo và nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực y tế. 

Nguồn tài chính đề bệnh viện hoạt động chủ yếu từ NSNN. 

Mục tiêu chủ yếu của bệnh viện công mang tính chất phúc lợi, phi lợi nhuận, nhằm bảo đảm sức khỏe cho nhân dân. 

Tổng hợp lại, có thể đưa ra khái niệm như sau: ệnh viện c ng là cơ sở y tế do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, hoạt động chủ yếu bằng nguồn ngân sách nhà nước, có chức năng khám chữa bệnh, cung cấp các dịch vụ y tế nhằm mục tiêu bảo đảm sức khỏe cho nhân dân.

1.2. Vai trò của bệnh viện công 

Hệ thống các bệnh viện công được xem như xương sống của hệ thống y tế ở nước ta, giữ vai trò quan trọng trong hệ thống y tế quốc gia, đáp ứng một phần lớn dịch vụ y tế cho người dân: khám chữa bệnh, cung cấp thuốc, các dịch vụ y tế khác, đảm bảo cho mọi người đều được chăm sóc sức khỏe cơ bản có chất lượng phù hợp với khả năng kinh tế xã hội của đất nước. Nhờ đó làm giảm đi sự thiếu hụt lao động vì đau ốm, giúp phục hồi sức khỏe và chữa bệnh, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển con người toàn diện. 

Bệnh viện công là một tổ chức y tế có nhiệm vụ phục vụ các nhu cầu có tính chất phúc lợi xã hội về y tế. Trong điều kiện kinh tế thị trường và trong bối cảnh xã hội vẫn còn nhiều người nghèo, nhiều đối tượng chính sách cần được trợ giúp y tế thì bệnh viện công có vai tr trực tiếp và không thể thiếu được trong việc bảo đảm tính công bằng về chăm sóc sức khỏe, cho dù có rất nhiều bệnh viện tư đi chăng nữa. Đây vừa là đặc điểm vừa là ưu việt của bệnh viện công so với bệnh viện tư, song chính điều này dẫn đến khó khăn về mặt tài chính cho bệnh viện công. 

Trong xu thế xã hội hóa dịch vụ công nói chung và dịch vụ y tế nói riêng, các bệnh viện công ở Việt Nam c n có vai tr n ng cốt và tiên phong về nhiều mặt trong hệ thống các bệnh viện thuộc mọi thành phần kinh tế và góp phần quan trọng đối với sự phát triển của nền y học nước nhà. Cụ thể là: bệnh viện là trung tâm chẩn đoán và điều trị với kỹ thuật cao cho người bệnh khó mà tuyến chăm sóc sức khỏe ban đầu không xử lý được; là trung tâm nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực y học; là trung tâm đào tạo đội ngũ cán bộ y tế từ sơ cấp đến sau đại học, là cơ sở thực hành trong giảng dạy; là chỗ dựa về kỹ thuật, về phòng bệnh chăm sóc sức khỏe ban đầu cho cộng đồng, là tuyến trên của y tế cộng đồng. 

Hoạt động theo cơ chế tự chủ tài chính, các bệnh viện công trở thành các đơn vị sự nghiệp có thu của Nhà nước. Thông qua hoạt động khám chữa bệnh, cung cấp các dịch vụ y tế, bệnh viện công không chỉ góp phần thực hiện mục tiêu phúc lợi xã hội mà tiến tới c n có đóng góp nhất định cho ngân sách nhà nước. 

1.3. Khái niệm và đặc điểm của quản lý tài chính công 

Quản lý (tiếng Anh là Management, tiếng latinh là "manum agere" nghĩa là "điều khiển bằng tay") đặc trưng cho quá trình điều khiển và dẫn hướng tất cả các bộ phận của một tổ chức, thường là tổ chức kinh tế, thông qua việc thành lập và thay đổi các nguồn tài nguyên (nhân lực, tài chính, vật tư, trí thức và giá trị vô hình). 

Từ đầu thế kỷ 20 đến nay, quản lý được nâng lên hàng nghệ thuật và có thể gọi đó là "nghệ thuật khiến công việc được làm bởi người khác".

Quản lý là một quy trình công nghệ do chủ thể quản lý tiến hành thông qua việc sử dụng các công cụ và phương pháp thích hợp nhằm tác động và điều khiển đối tượng quản lý hoạt động, phát triển phù hợp với quy luật khách quan và đạt tới các mục tiêu đã định. 

Quản lý tài chính công là quá trình mà chủ thể quản lý, thông qua việc sử dụng có chủ định các phương pháp và các công cụ quản lý, tác động và điều khiển hoạt động tài chính công nhằm đạt được các mục tiêu đã định.Trong hoạt động quản lý tài chính các vấn đề về: chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, công cụ quản lý, phương pháp quản lý, mục tiêu quản lý là những vấn đề trọng tâm, đòi hỏi phải được nhận thức và xác định đúng đắn. 

Quản lý tài chính công là một nội dung của quản lý tài chính và là một bộ phận của quản lý xã hội nói chung. Trong đó, chủ thể quản lý cao nhất là Nhà nước, tiếp theo là các cơ quan nhà nước được Nhà nước giao nhiệm vụ thực hiện các hoạt động tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của Nhà nước. Các cơ quan được giao chức năng, nhiệm vụ trực tiếp quản lý tài chính công thông thường là bộ máy tài chính trong hệ thống các cơ quan nhà nước. 

Đối tượng quản lý của tài chính công là các hoạt động tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ diễn ra trong các bộ phận cấu thành của tài chính công. 

Hoạt động quản lý các đối tượng quản lý trong từng lĩnh vực cấu thành của tài chính công chính là các nội dung chủ yếu của quản lý tài chính công. 

Các chủ thể quản lý có thể sử dụng nhiều phương pháp và công cụ quản lý khác nhau để quản lý. Các phương pháp thường được sử dụng, như phương pháp tổ chức, phương pháp hành chính, phương pháp kinh tế. 

Các công cụ thường được sử dụng, bao gồm công cụ pháp luật, các chính sách công và chính sách tài chính công, các đ n bẩy kinh tế, tài chính, các công cụ kiểm tra, thanh tra, giám sát; các tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý TCC... 

Về đối tƣợng của quản lý tài chính công. Đối tượng của quản lý tài chính nhà nước là các hoạt động tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của tài chính công. Các hoạt động của tài chính công lại luôn gắn liền với các cơ quan nhà nước - các chủ thể của tài chính công. Các cơ quan này vừa là người thụ hưởng nguồn kinh phí của TCC, vừa là người tổ chức các hoạt động của TCC. Do đó, vừa là chủ thể, vừa trở thành đối tượng của quản lý TCC. Vì vậy, sự kết hợp chặt chẽ giữa quản lý con người với quản lý hoạt động tài chính là đặc điểm quan trọng của quản lý TCC. 

Về sử dụng các phƣơng pháp và công cụ quản lý tài chính công. Trong quản lý TCC có thể sử dụng nhiều phương pháp quản lý khác nhau (tổ chức, hành chính, kinh tế) và nhiều công cụ quản lý khác nhau (pháp luật, chính sách công, các đòn bẩy kinh tế, thanh tra, kiểm tra, đánh giá...). Mỗi phương pháp, công cụ có đặc điểm riêng, có cách thức tác động riêng và có các ưu, nhược điểm riêng. 

Nếu như phương pháp tổ chức, hành chính có ưu điểm là đảm bảo được tính tập trung, thống nhất dựa trên nguyên tắc chỉ huy, quyền lực thì lại có nhược điểm là hạn chế tính kích thích, tính chủ động của các cơ quan tổ chức hoạt động TCC. Ngược lại, các phương pháp kinh tế có ưu điểm là phát huy được tính chủ động, sáng tạo nhưng lại có nhược điểm là hạn chế tính tập trung, thống nhất trong việc tổ chức các hoạt động TCC theo cùng một hướng. Do vậy, trong quản lý TCC thường phải sử dụng đồng bộ và kết hợp chặt chẽ các phương pháp và công cụ quản lý 

Tuy nhiên, do đặc điểm của hoạt động TCC là luôn gắn liền với quyền lực của nhà nước, nên trong quản lý TCC phải đặc biệt chú trọng tới các phương pháp, công cụ mang tính quyền uy, mệnh lệnh để đảm bảo tính tập trung, thống nhất. Đó là các phương pháp tổ chức - hành chính và các công cụ pháp luật, thanh tra, kiểm tra. Đây cũng là một đặc điểm quan trọng của quản lý TCC.

Về đặc điểm quản lý nội dung TCC. Nội dung vật chất của TCC là các nguồn tài chính, các quỹ tiền tệ thuộc sở hữu nhà nước mà nhà nước có thể chi phối và sử dụng trong một thời kỳ nhất định. Các nguồn tài chính đó có thể tồn tại dưới dạng tiền tệ hoặc tài sản, nhưng tổng số nguồn lực tài chính đó là biểu hiện về mặt giá trị, là đại diện cho một lượng của cải vật chất của xã hội. 

Về lý thuyết cũng như thực tiễn, sự vận động của các nguồn tài chính phải ăn khớp với sự vận động của của cải vật chất mới đảm bảo cho sự phát triển cân đối của nền kinh tế. Điều đó càng có ý nghĩa và cần thiết bởi vì tổng nguồn lực tài chính mà Nhà nước nắm giữ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn lực tài chính của toàn xã hội. 

Trong quản lý TCC không những phải quản lý nguồn tài chính đang tồn tại cả dưới hình thức tiền tệ, cả dưới hình thức tài sản, mà c n phải quản lý sự vận động của tổng nguồn lực TCC - sự vận động về mặt giá trị, trên cơ sở tính toán để đảm bảo cân đối với sự vận động của các luồng của cải vật chất và lao động - sự vận động về mặt giá trị sử dụng, trong đời sống thực tiễn. Kết hợp quản lý, đảm bảo 25 tính thống nhất giữa hiện vật và giá trị, giá trị và giá trị sử dụng cũng là một đặc điểm quan trọng của quản lý TCC. 

2. Quản lý tài chính ở bệnh viện công 

Phạm trù tài chính của một tổ chức thường được quan niệm tương đồng với các quỹ tiền tệ và các loại vốn được sử dụng để thực hiện các hoạt động nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức đó. Đối với bệnh viện công, tài chính bệnh viện là sự vận động của đồng tiền để thực hiện mục tiêu phúc lợi về chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân, hướng tới mục tiêu phát triển con người toàn diện. Nó vừa phải thực hiện mục tiêu công bằng trong y tế, vừa phải bảo đảm mục tiêu hiệu quả tài chính.

Quản lý tài chính trong một tổ chức là chức năng quản lý gắn liền với việc huy động, tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn tài chính nhằm đáp ứng yêu cầu về tài chính cho các hoạt động của tổ chức, góp phần thực hiện mục tiêu chung của tổ chức một cách hiệu quả. Nếu xét theo quá trình thì quản lý tàì chính của một tổ chức cũng gồm các hoạt động lập kế hoạch, tổ chức, điều hành và kiểm tra các nguồn tài chính và hoạt động tài chính của tổ chức. 

Đối với các tổ chức phi lợi nhuận như bệnh viện công, quản lý tài chính không nhằm mục tiêu lợi nhuận như các tổ chức kinh doanh, nhưng với cơ chế tự chủ tài chính thì các nhà quản lý của bệnh viện công phải quan tâm đến tài chính theo hướng tự thu, tự chi; đó không chỉ là huy động và tạo nguồn thu mà còn là sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn thu, nhằm bảo đảm cho bệnh viện thực hiện được các chức năng và mục tiêu của mình. 

Từ sự phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm: Quản lý tài chính bệnh viện công là sự tác động lên c c đối tượng và hoạt động tài chính thông qua quá trình lập kế hoạch và tổ chức thực hiện các kế hoạch tài chính, quyết toán và kiểm tra tài chính tại bệnh viện nhằm xác định các nguồn thu và các khoản chi để phục vụ nhiệm vụ khám, chữa bệnh, đào tạo và nghiên cứu khoa học, đảm bảo đủ kinh phí và sử dụng kinh phí một cách hiệu quả và công bằng, góp phần thực hiện mục tiêu chung của bệnh viện công.

Theo nghĩa rộng, quản lý tài chính tại bệnh viện công là việc quản lý toàn bộ các nguồn vốn, tài sản, vật tư để phục vụ nhiệm vụ khám chữa bệnh, đào tạo và nghiên cứu khoa học của bệnh viện.

Theo nghĩa hẹp, quản lý tài chính tại bệnh viện công là quản lý các nguồn thu và các khoản chi bằng tiền của bệnh viện nhằm đảm bảo đủ kinh phí cho hoạt động của bệnh viện và sử dụng kinh phí một cách hiệu quả và công bằng, góp phần thực hiện mục tiêu chung của bệnh viện công. 

Trong luận văn này, quản lý tài chính bệnh viện được xem xét theo nghĩa hẹp nói trên. 

2.1. Mục tiêu của quản lý tài chính trong bệnh viện công 

Hiệu quả thực hiện của tài chính kế toán là mục tiêu quan trọng của quản lý tài chính bệnh viện. Các yếu tố của mục tiêu này bao gồm: 

Duy trì cán cân thu chi: đây là điều kiện tiên quyết và bắt buộc của quản lý tài chính bệnh viện và cũng là tiêu chuẩn cho sự thành công trong cơ chế quản lý mới – tiến tới hạch toán chi phí. 

Bệnh viện phải cải thiện chất lượng thông qua một số chỉ tiêu chuyên môn như: tỉ lệ tử vong, … 

Nhân viên hài lòng với bệnh viện: đời sống cán bộ công nhân viên được cải thiện, cải thiện phương tiện làm việc, xây dựng văn hóa Bệnh viện.

Bệnh viện phát triển cơ sở vật chất, phát triển các chuyên khoa. 

Công bằng y tế: chất lượng phục vụ như nhau cho toàn bộ các đối tượng


quản lý tài chính trong bệnh viện


Như vậy, quản lý tài chính bệnh viện phải đáp ứng cùng lúc bốn đối tác: Bệnh nhân, nhân viên trong bệnh viện, Ban Giám đốc bệnh viện và Nhà nước. Đó là:

Với bệnh nhân: chất lượng chăm sóc và công bằng y tế 

Với nhân viên: Được hài lòng do đời sống được cải thiện. 

Yêu cầu của Ban giám đốc: hoàn thành trách nhiệm thực hiện cán cân thu chi. 

Y tế Nhà nước : Phát triển bệnh viện. 

Nhìn chung trong điều kiện kinh tế nước ta như hiện nay, mục tiêu của quản lý tài chính bệnh viện phải cùng lúc đạt được năm mục tiêu trên. Tuy nhiên ở một số vùng sâu, vùng xa, gặp nhiều khó khăn thì phải sắp xếp thứ tự của ưu tiên nào cần phấn đấu trước. 

2.2. Nguyên tắc quản lý‎tài chính bệnh viện công 

Cơ chế tự chủ tài chính cho phép bệnh viện chủ động, linh hoạt để có thể huy động và tạo đủ các nguồn thu và sử dụng chúng một cách hiệu quả trong khuôn khổ luật pháp, đem lại lợi ích cho cả xã hội và bệnh viện. Song bệnh viện công là bệnh viện của Nhà nước, nên quản lý tài chính bệnh viện công đòi hỏi vừa phải tuân thủ các nguyên tắc, chế độ tài chính của Nhà nước đối với bệnh viện, vừa phải thực hiện các quy chế, quy định do bệnh viện đề ra đối với hoạt động tài chính bệnh viện. Để quản lý tài chính bệnh viện công theo hướng hiệu quả và công bằng, cần thực hiện các nguyên tắc sau: 

Tiến hành thu- chi theo đúng pháp luật, đúng nguyên tắc của Nhà nước và các quy định của bệnh viện về quản lý tài chính. 

Tăng nguồn thu hợp pháp, quản lý các nguồn kinh phí ngân sách nhà nước cấp và các nguồn khác như viện phí, bảo hiểm y tế, viện trợ, đóng góp của nhân viên… theo đúng quy định của Nhà nước; sử dụng các khoản chi có hiệu quả, chống lãng phí, thực hành tiết kiệm trong chi tiêu.

Thực hiện chính sách ưu đãi và cải thiện tính công bằng trong khám, chữa bệnh cho các đối tượng ưu đãi và người nghèo. 

Bảo đảm hài hoà lợi ích của Nhà nước, bệnh viện và bệnh nhân, cụ thể là lợi ích của các nhóm đối tượng: Nhà nước, bệnh nhân, ban lãnh đạo và nhân viên của bệnh viện. 

Công khai chi phí phải trả cho các loại dịch vụ khám chữa bệnh. Từng bước hạch toán chi phí và giá thành khám chữa bệnh. 

2.3. Nội dung quản lý tài chính bệnh viện công 

Quy trình quản lý tài chính trong bệnh viện công ở Việt Nam gồm 4 bước: 
  • Lập dự toán thu chi. 
  • Thực hiện dự toán. 
  • Quyết toán. 
  • Thanh tra, kiểm tra, đánh giá. 
2.3.1. Lập dự toán thu chi 

Lập dự toán thu chi các nguồn kinh phí của bệnh viện là thông qua các nghiệp vụ tài chính để cụ thể hoá định hướng phát triển, kế hoạch hoạt động ngắn hạn của bệnh viện, trên cơ sở tăng nguồn thu hợp pháp và vững chắc, đảm bảo được hoạt động thường xuyên của bệnh viện, đồng thời từng bước củng cố và nâng cấp cơ sở vật chất của bệnh viện, tập trung đầu tư đúng mục tiêu ưu tiên nhằm đạt hiệu quả cao, hạn chế tối đa lãng phí và tiêu cực, từng bước tính công bằng trong sử dụng các nguồn đầu tư cho bệnh viện. 

Khi xây dựng dự toán thu chi của bệnh viện cần căn cứ vào:
  • Phương hướng nhiệm vụ của đơn vị 
  • Chỉ tiêu, kế hoạch có thể thực hiện được 
  • Kinh nghiệm thực hiện các năm trước 
  • Khả năng ngân sách nhà nước cho phép 
  • Khả năng cấp vật tư của Nhà nước và của thị trường 
  • Khả năng tổ chức quản lý và kỹ thuật của đơn vị 
  • Các nguồn tài chính của bệnh viện 
  • Ngân sách nhà nước cấp 
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về ngân sách Nhà nước cấp cho bệnh viện ở Việt Nam. Nhìn chung, các nguồn đầu tư kinh phí cho bệnh viện thông qua kênh phân bổ của Chính phủ được coi là NSNN cấp cho bệnh viện. Theo đó, ngân sách cho bệnh viện có thể bao gồm chi sự nghiệp và đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN, chi từ bảo hiểm y tế, thu viện phí và viện trợ nước ngoài… Tuy nhiên, nguồn NSNN cấp cho bệnh viện ở đây được định nghĩa là khoản chi cho bệnh viện từ NSNN cấp cho sự nghiệp y tế, cân đối từ nguồn thuế trực thu và thuế gián thu. Bao gồm các khoản chi đầu tư, chi vận hành hệ thống. 

Đối với các nước đang phát triển, nguồn NSNN cấp là nguồn tài chính quan trọng nhất cho hoạt động của bệnh viện. Ở Việt Nam, cho đến nay, hàng năm các bệnh viện công nhận được một khoản kinh phí được cấp từ ngân sách của Chính phủ căn cứ theo định mức tính cho một đầu giường bệnh/năm nhân với số giường bệnh kế hoạch của bệnh viện. Số kinh phí này thường đáp ứng được từ 30 đến 50% nhu cầu chi tiêu tối thiểu của bệnh viện. 

Nguồn thu viện phí và bảo hiểm y tế

Theo quy định của Bộ Tài chính nước ta, nguồn thu viện phí và bảo hiểm y tế là một phần ngân sách sự nghiệp y tế của Nhà nước giao cho bệnh viện quản lý và sử dụng để đảm bảo chất lượng khám, chữa bệnh cho nhân dân. Nguồn thu viện phí và bảo hiểm y tế thường đảm bảo được từ 20-30% nhu cầu chi tiêu tối thiểu của các bệnh viện công. 

Tuy nhiên cho đến nay ở nước ta, các cơ sở khám, chữa bệnh trong hệ thống y tế Nhà nước chỉ được phép thu một phần viện phí. Một phần viện phí là một phần trong tổng chi phí cho việc khám chữa bệnh. Một phần viện phí chỉ tính tiền thuốc, dịch truyền, máu, hoá chất, xét nghiệm, phim X quang, vật tư tiêu hao thiết yếu và dịch vụ khám chữa bệnh; không tính khấu hao tài sản cố định, chi phí hành chính, đào tạo, nghiên cứu khoa học, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và trang thiết bị lớn. 

Hiện nay, giá viện phí do Chính quyền cấp tỉnh của từng địa phương quy định dựa trên một khung giá tối đa- tối thiểu đã được Bộ Y tế và Bộ Tài chính phê duyệt. Đối với người bệnh ngoại trú, biểu giá thu viện phí được tính theo lần khám bệnh và các dịch vụ kỹ thuật mà người bệnh trực tiếp sử dụng. Đối với người bệnh nội trú, biểu giá thu một phần viện phí được tính theo ngày giường nội trú của từng chuyên khoa theo phân hạng bệnh viện và các khoản chi phí thực tế sử dụng trực tiếp cho người bệnh. Đối với khám chữa bệnh theo yêu cầu thì mức thu được tính trên cơ sở mức đầu tư của bệnh viện và cũng phải được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Đối với người có thẻ Bảo hiểm y tế thì cơ quan bảo hiểm thanh toán viện phí của bệnh nhân cho bệnh viện. Tuy nhiên ở Việt Nam mới chỉ phổ biến loại hình bảo hiểm y tế bắt buộc áp dụng cho các đối tượng công nhân viên chức làm công ăn lương trong các cơ quan Nhà nước và các doanh nghiệp. Các loại hình bảo hiểm khác chưa được triển khai một cách phổ biến. 

Hiện nay, với chủ trương xã hội hoá các hoạt động chăm sóc sức khoẻ của Đảng và Nhà nước, các loại hình bệnh viện và cơ sở y tế bán công ngoài công lập ra đời với cơ chế tài chính chủ yếu dựa vào nguồn thu viện phí và bảo hiểm y tế. 

Nguồn viện trợ và các nguồn thu khác 

Nguồn viện trợ và các nguồn thu khác cũng được Chính phủ Việt Nam quy định là một phần ngân sách của Nhà nước giao cho bệnh viện quản lý và sử dụng. Tuy nhiên bệnh viện thường phải chi tiêu theo định hướng những nội dung đã định từ phía nhà tài trợ. Nguồn kinh phí này đáp ứng khoảng 20-30% chi tối thiểu của bệnh viện. 

Chi 

Nhóm I 

Chi cho con người 

Bao gồm các khoản chi về lương, phụ cấp lương ( được tính theo chế độ hiện hành, kể cả nâng bậc lương hàng năm trong từng đơn vị hành chính sự nghiệp) và các khoản phải nộp theo lương : bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội. Đây là khoản bù đắp hao phí sức lao động, đảm bảo duy trì quá trình tái sản xuất sức lao động cho bác sỹ, y tá, cán bộ công nhân viên của bệnh viện. Theo quy định trước đây, nhóm này tương đối ổn định, chiếm khoảng 20% tổng kinh phí và chỉ thay đổi nếu biên chế được phép thay đổi. 

Nhóm II 

Chi quản lý hành chính 

Bao gồm các khoản chi: tiền điện, tiền nước, văn phòng phẩm, thông tin liên lạc, hội nghị, khánh tiết, xăng xe…. Nhóm này mang tính gián tiếp nhằm duy trì sự hoạt động của bộ máy quản lý của bệnh viện. Do vậy, các khoản chi này đòi hỏi phải chi đúng, chi đủ, kịp thời và cần sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả. Tỷ lệ nhóm chi này nên nằm trong khoảng từ 10-15% tổng kinh phí. 

Trước đây nhóm chi này bị khống chế bởi quy định của Nhà nước với định mức chi nhìn chung rất hạn hẹp và bất hợp lý. Tuy nhiên, trong cơ chế mới đơn vị chủ động xây dựng tiêu chuẩn, định mức và chế độ chi tiêu nội bộ căn cứ trên cơ sở định mức kinh tế kỹ thuật và chế độ chi tiêu tài chính hiện hành của Nhà nước để đảm bảo hoạt động thường xuyên cho phù hợp với hoạt động đặc thù của bệnh viện, đồng thời tăng cường công tác quản lý, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả trong phạm vi nguồn tài chính của mình. 

Cùng với việc chủ động đưa ra định mức chi, đơn vị cần xây dựng chính sách tiết kiệm và quản lý chặt chẽ các khoản chi tiêu. Quản lý tốt nhóm này sẽ tạo điều kiện tiết kiệm, tăng thêm kinh phí cho các nhóm khác. 

Nhóm III 

Chi nghiệp vụ chuyên môn

Bao gồm chi mua hàng hoá, vật tư dùng cho công tác điều trị và khám bệnh; trang thiết bị kỹ thuật; sách, tài liệu chuyên môn y tế…. Nhóm này phụ thuộc vào cơ sở vật chất và quy mô hoạt động của bệnh viện. Có thể nói đây là nhóm quan trọng, chiếm 50% tổng số kinh phí và đòi hỏi nhiều công sức về quản lý. Đây là nhóm thiết yếu nhất, thực hiện theo yêu cầu thực tế nên Nhà nước ít khống chế việc sử dụng kinh phí nhóm này. Nhóm chi nghiệp vụ chuyên môn có liên hệ chặt chẽ với chất lượng săn sóc bệnh nhân và mục tiêu phát triển bệnh viện.

Vấn đề đặt ra trong việc quản lý nhóm chi này là do những quy định không quá khắt khe đòi hỏi các nhà quản lý phải biết sử dụng đúng mức và thích hợp, tránh làm mất cân đối thu chi đặc biệt là thuốc nhưng vẫn giữ được chất lượng điều trị và nhất là tiết kiệm được kinh phí, tránh lãng phí: chi thuốc không quá 50% nhóm chi chuyên môn. 

Nhóm IV 

Chi mua sắm, sửa chữa tài sản cố định 

Hàng năm do nhu cầu hoạt động, do sự xuống cấp tất yếu của tài sản cố định dùng cho hoạt động chuyên môn cũng như quản lý nên thường phát sinh nhu cầu kinh phí để mua sắm, trang bị thêm hoặc phục hồi giá trị sử dụng cho những tài sản cố định đã xuống cấp. Có thể nói đây là nhóm chi mà các bệnh viện đều quan tâm vì nhóm này có thể làm thay đổi bộ mặt của bệnh viện và thay đổi công nghệ chăm sóc bệnh nhân theo hướng phát triển từng giai đoạn. Tỷ lệ chi nhóm này nên ở mức trên 20% với bốn mục tiêu chính: 

Duy trì và phát triển cơ sở vật chất 

Duy trì và phát triển tiện nghi làm việc 

Duy trì và phát triển trang thiết bị 

Duy trì và phát triển kiến thức, kỹ năng nhân viên 

Về sửa chữa 

Nhìn chung các bệnh viện của Việt Nam đều xuống cấp và đòi hỏi phải sửa chữa, nâng cấp, mở rộng đặc biệt là trong tình trạng quá tải bệnh nhân như hiện nay. Nhưng đây là nhóm được quy định rất chặt chẽ trong từng phần vụ: sửa chữa nhỏ và sửa chữa lớn. Vấn đề đặt ra là phải sửa chữa đúng mức, đầy đủ, đáp ứng tiêu chuẩn vệ sinh; đòi hỏi phát huy năng lực quản lý trong nhóm chi này nhằm bảo toàn trị giá vốn trong sửa chữa để có kết quả tốt trong việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn bỏ ra. 

* Về việc mua sắm tài sản cố định 

Bao gồm tiện nghi làm việc và trang thiết bị phục vụ chuyên môn. Do tác động của cách mạng khoa học kỹ thuật, trang thiết bị cho khám chữa bệnh trong bệnh viện càng hiện đại, sử dụng kỹ thuật ngày càng cao. Nhưng hầu hết các trang thiết bị này được sản xuất ở nước ngoài, giá cả tương đối cao. Vấn đề đặt ra là việc mua sắm phải tính đến giá cả/ hiệu quả. “ Liệu cơm gắp mắm” là phương châm mua sắm trang thiết bị cho các bệnh viện. Việc mua sắm phải tuân thủ theo các quy định của Nhà nước đồng thời bệnh viện phải có chiến lược quản lý và sử dụng công nghệ để đạt hiệu quả. 

2.3.2. Thực hiện dự toán 

Thực hiện dự toán là khâu quan trọng trong quá trình quản lý tài chính bệnh viện. Đây là quá trình sử dụng tổng hoà các biện pháp kinh tế tài chính và hành chính nhằm biến các chỉ tiêu đã được ghi trong kế hoạch thành hiện thực. Thực hiện dự toán đúng đắn là tiền đề quan trọng để thực hiện các chỉ tiêu phát triển bệnh viện. Tổ chức thực hiện dự toán là nhiệm vụ của tất cả các phòng, ban, các bộ phận trong đơn vị. Do đó đây là một nội dung được đặc biệt quan trọng trong công tác quản lý tài chính của bệnh viện. Việc thực hiện dự toán diễn ra trong một niên độ ngân sách ( ở nước ta là một năm từ ngày 01/01 đến 31/12 hàng năm). 

Căn cứ thực hiện dự toán 

Dự toán thu chi ( kế hoạch) của bệnh viện đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Đây là căn cứ mang tính chất quyết định nhất trong chấp hành dự toán của bệnh viện. Đặc biệt là trong điều kiện hiện nay, cùng với việc tăng cường quản lý Nhà nước bằng pháp luật, một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý tài chính ngày càng được hoàn thiện. Việc chấp hành dự toán thu chi ngày càng được luật hoá, tạo điều kiện cho đơn vị chủ động thực hiện theo đúng chức năng, nhiệm vụ của mình. 

Khả năng nguồn tài chính có thể đáp ứng nhu cầu hoạt động của bệnh viện.

Chính sách, chế độ chi tiêu và quản lý tài chính hiện hành của Nhà nước. 

Đảm bảo phân phối, cấp phát, sử dụng nguồn kinh phí một cách hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả. 

Đảm bảo giải quyết linh hoạt về kinh phí. Do sự hạn hẹp của nguồn kinh phí và những hạn chế về khả năng dự toán nên giữa thực tế diễn ra trong quá trình chấp hành và dự toán có thể có những khoảng cách nhất định đ i hỏi phải có sự linh hoạt trong quản lý. Nguyên tắc chung là chi theo dự toán nhưng nếu không có dự toán mà cần chi thì có quyết định kịp thời, đồng thời có thứ tự ưu tiên việc gì trước, việc gì sau. Khi thực hiện dự toán bệnh viện cần phải chú ý: 

+ Khâu vệ sinh phòng dịch 

+ Thuốc đảm bảo khám và chữa bệnh 

+ Trang thiết bị 

+ Tiền lương và phụ cấp cho cán bộ công nhân viên

+ Sửa chữa, nâng cấp bệnh viện 

Sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt dự toán và nhận được thông báo cấp vốn hạn mức, đơn vị chủ động sử dụng để hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Tổ chức thực hiện thu nhận các nguồn tài chính theo kế hoạch và theo quyền hạn. 

Tổ chức thực hiện các khoản chi theo chế độ, tiêu chuẩn và định mức theo do Nhà nước quy định trên cơ sở đánh giá hiệu quả, chất lượng công việc. 

2.3.3. Quyết toán 

Công tác quyết toán là khâu cuối cùng của quá trình sử dụng kinh phí. Đây là quá trình phản ánh đầy đủ các khoản chi và báo cáo quyết toán ngân sách theo đúng chế độ báo cáo về biểu mẫu, thời gian, nội dung và các khoản chi tiêu. Trên cơ sở các số liệu báo cáo quyết toán có thể đánh giá hiệu quả phục vụ của chính bệnh viện, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch đồng thời rút ra ưu, khuyết điểm của từng bộ phận trong quá trình quản lý để làm cơ sở cho việc quản lý ở chu kỳ tiếp theo đặc biệt là làm cơ sở cho việc lập kế hoạch của năm sau.

Muốn công tác quyết toán được tốt cần phải: 

Tổ chức bộ máy kế toán theo quy định nhưng đảm bảo tinh giản, gọn nhẹ, linh hoạt và hiệu quả. 

Mở sổ sách theo dõi đầy đủ và đúng quy định. 

Ghi chép cập nhật, phản ánh kịp thời và chính xác. 

Thường xuyên tổ chức đối chiếu, kiểm tra. 

Cuối kỳ báo cáo theo mẫu biểu thống nhất và xử lý những trường hợp trái với chế độ để tránh tình trạng sai sót. 

Thực hiện báo cáo quý sau 15 ngày và báo cáo năm sau 45 ngày theo quy định của Nhà nước. 

2.3.4. Thanh tra, kiểm tra, đánh giá

Kiểm tra tài chính trong quản lý bệnh viện công là quá trình giám sát, đo lường, đánh giá việc thực hiện và kết quả thực hiện các hoạt động tài chính, từ đó đưa ra các biện pháp điều chỉnh (nếu cần thiết), nhằm bảo đảm kế hoạch tài chính của bệnh viện được thực hiện đúng như dự kiến. 

Kiểm tra tài chính là nội dung tất yếu của quản lý tài chính, bởi vì quá trình thực hiện kế hoạch thu chi, do các lý do khách quan và chủ quan, không phải bao giờ cũng đúng như dự kiến. 

Mục tiêu của kiểm tra tài chính nhằm: 

- Kịp thời phát hiện sai sót và điều chỉnh, bảo đảm cho bệnh viện thực hiện được các kế hoạch đã đề ra. 

Giúp đơn vị nắm được tình hình quản lý tài chính, đảm bảo hiệu quả trong đầu tư và sử dụng các nguồn lực. 

- Đưa công tác quản lý tài chính bệnh viện đi vào nền nếp và nâng cao chất lượng của các hoạt động tài chính. 

Tận dụng được các cơ hội và giảm thiểu được các rủi ro tài chính. 

Các nhiệm vụ của kiểm tra tài chính gồm: 

Giám sát và đo lường các hoạt động tài chính 

Đánh giá các hoạt động, các quyết định, các kế hoạch tài chính

Điêù chính nhằm khắc phục hoặc hạn chế sai sót 

Đưa ra những kiến nghị đổi mới 

Các hình thức của kiểm tra tài chính 

Kiểm tra trước khi thực hiện kế hoạch tài chính; là loại kiểm tra được tiến hành khi xây dựng, xét duyệt và quyết định dự toán thu chi của bệnh viện, khi phân tích tài chính và lập kế hoạch tài chính. 

Kiểm tra thường xuyên trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ kế hoạch tài chính đã được quyết định. Gồm kiểm tra các hoạt động thu chi, kiểm tra kết cấu tài chính, kiểm tra việc phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ. 

Kiểm tra sau khi thực hiện kế hoạch tài chính; tức là xem xét lại tính đúng đắn, hợp pháp, hợp lý của các hoạt động tài chính cũng như các số liệu, tài liệu tổng hợp được đưa ra trong sổ sách, bảng biểu. 

Xét theo tần suất kiểm tra, gồm: 

Kiểm tra thường xuyên, đó là theo dõi, kiểm tra liên tục hàng ngày. 

Kiểm tra định kì, ví dụ hàng tháng, quý hay năm có kiểm tra tài chính. 

Kiểm tra đột xuất, khi cần có thông tin một cách khách quan hoặc khi cần sự can thiệp gấp của nhà quản lý. 

Trong kiểm tra tài chính, công tác đánh giá là không thể thiếu. Đánh giá việc thực hiện kế hoạch tài chính giúp nhà quản lý thấy rõ kế hoạch đang được thực hiện đến mức độ nào, liệu có hoàn thành kế hoạch hay không, nguyên nhân tại sao, từ đó có biện pháp động viên hay sửa chữa cũng như rút kinh nghiệm quản lý. Trong hoạt động đánh giá thì nội dung đầu tiên là xác định hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá. Tuy nhiên các tiêu chí đánh giá quản lý tài chính hiện nay chưa thống nhất và còn nhiều tranh luận; đối với bệnh viện công lại càng khó khăn do tính đặc thù của nó là gắn bó hữu cơ giữa mục tiêu hiệu quả kinh tế tài chính với mục tiêu công bằng trong cung cấp dịch vụ y tế cho nhân dân. 

Hướng tới thực hiện đồng thời cả mục tiêu hiệu quả tài chính và mục tiêu công bằng, hiện nay người ta thường dùng một số tiêu chí đánh giá hoạt động tài chính của bệnh viện sau đây: 

Mức độ cân đối tài chính: tổng số thu và chi tiêu hàng năm; cơ cấu các nguồn thu và sử dụng các nguồn thu. 

Hiệu quả các hoạt động ( khám chữa bệnh, nghiên cứu khoa học, ...): so sánh kết quả thực tế với chi phí đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó. 

Chất lượng chuyên môn: kinh phí đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất kĩ thuật, công nghệ, phương pháp điều trị, nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ nhân lực của bệnh viện. 

Hạch toán chi phí bệnh viện: liên quan đến chi phí kế toán và chi phí y tế. 

Quy mô của bệnh viện: số chuyên khoa; số giường bệnh; số bác sĩ; mức độ tiếp cận các dịch vụ bệnh viện của nhân dân trên địa bàn. 

3. Những nhân tố cơ bản tác động đến quản lý tài chính bệnh viện công 

3.1. Nhân tố bên ngoài 

Các yếu tố môi trường bên ngoài vừa tạo ra những ảnh hưởng tích cực vừa có thể gây ra những thách thức đối với quản lý tài chính bệnh viện công. Các yếu tố môi trường sau đây cần được xem xét: 

Chính sách, pháp luật của Nhà nước 

Trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường nhiều thành phần và hội nhập quốc tế, Nhà nước đã có nhiều thay đổi trong hệ thống chính sách trong đó có chính sách tài chính y tế. Những thay đổi này tạo điều kiện thuận lợi cho các bệnh viện thực hiện hợp tác quốc tế, thu hút nguồn viện trợ nước ngoài cũng như tiếp cận các tiến bộ khoa học kỹ thuật. Trong môi trường hội nhập, bệnh viện có nhiều cơ hội trong việc hợp tác với các tổ chức y tế trong và ngoài nước, chuyển giao công nghệ và nhận các khoản viện trợ không hoàn lại từ các tổ chức quốc tế. 

Với chính sách xã hội hoá y tế, các thành phần kinh tế và các hình thức sở hữu trong y tế trở nên đa dạng, tạo điều kiện tăng các nguồn lực xã hội để phát triển y tế. Chính sách này cho phép các bệnh viện đa dạng hoá việc khai thác các nguồn tài chính phục vụ cho công tác khám chữa bệnh của mình: xây dựng khoa khám và điều trị tự nguyện; phát triển thành bệnh viện bán công; … Chính sách xã hội hoá làm thúc đẩy cạnh tranh giữa các bệnh viện công lập và dân lập, cũng như giữa các bệnh viện công với nhau, đòi hỏi bệnh viện phải nâng cao chất lượng hoạt động khám chữa bệnh và hoàn thiện quản lý tài chính theo hướng công bằng và hiệu quả hơn. 

Hệ thống các chính sách y tế nói chung đều hướng tới việc củng cố và phát triển hệ thống y tế, nâng cao chất lượng các dịch vụ y tế đồng thời đảm bảo công bằng và hiệu quả trong công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân, đặc biệt là các chính sách tài chính áp dụng cho quản lý bệnh viện đã tạo hành lang pháp lý cho bệnh viện tổ chức thực hiện tốt quản lý tài chính. Chính sách viện phí và bảo hiểm y tế là hai chính sách tài chính y tế có tác động rõ rệt nhất đến quản lý tài chính bệnh viện công. 

Về chính sách viện phí: Trước thời kỳ đổi mới, các bệnh viện được Nhà nước bao cấp hoàn toàn, nhân dân được khám chữa bệnh miễn phí. Bước sang thời kỳ đổi mới, nguồn NSNN không thể đảm bảo cho công tác chăm sóc sức khoẻ nên vấn đề tài chính cho các bệnh viện càng trở nên bức xúc. Để có thêm nguồn kinh phí cho hoạt động khám chữa bệnh, từ năm 1989 Nhà nước đã ban hành chính sách thu một phần viện phí. Chính sách này đã tăng nguồn tài chính cho hoạt động của các bệnh viện, góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh. Viện phí cũng là một chính sách tăng cường sự tham gia đóng góp của cộng đồng nhất là các đối tượng có khả năng chi trả từ đó có thêm nguồn ngân sách để tăng cường khám chữa bệnh cho người nghèo. 

Về chính sách bảo hiểm y tế: Bảo hiểm y tế được triển khai ở Việt Nam từ năm 1993 và trong những năm qua đã tạo nhiều thuận lợi cho quản lý tài chính bệnh viện công. Song các loại hình bảo hiểm y tế tự nguyện chưa đa dạng, phong phú và chưa thu hút được các đối tượng tham gia. Theo số liệu công bố của Bảo hiểm y tế Việt Nam năm 2009 thì thu bảo hiểm y tế bắt buộc chiếm 60% trong tổng thu bảo hiểm y tế; thu từ thẻ khám chữa bệnh cho người nghèo chiếm 10%; thu từ bảo hiểm y tế tự nguyện chiếm 30% tổng thu BHYT. 

Trình độ phát triển kinh tế- xã hội 

Tăng trưởng kinh tế những năm gần đây tương đối cao và ổn định; Cơ sở hạ tầng phát triển mạnh mẽ; Lạm phát được kiềm chế; Đầu tư cho y tế nói chung, đặc biệt là cho các bệnh viện tăng nhiều; Chi từ NSNN cho y tế hàng năm chiếm khoảng 1% GDP; Tình trạng đói nghèo được cải thiện; v.v..Tất cả những yếu tố nói trên tạo cơ hội tăng nguồn kinh phí cho hoạt động của bệnh viện công, có tác động tích cực đến quản lý tài chính bệnh viện. 

Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, trình độ dân trí và mức sống của đại đa số nhân dân được nâng lên so với trước thời kỳ đổi mới. Nhu cầu khám chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ tăng nhanh về số lượng và đòi hỏi cao hơn về chất lượng. Như vậy nguồn thu viện phí và các khoản chi của bệnh viện cũng phải tăng theo. Tuy nhiên cùng với sự phát triển kinh tế thị trường là sự phân hoá giàu nghèo trong tầng lớp dân cư. Theo số liệu điều tra của Tổng cục Thống kê năm 2008, mức chi phí điều trị nội trú bình quân mỗi người một năm là 1.200.000 đồng, chiếm khoảng 10% so với thu nhập - đây là mức chi phí quá cao. Một điều tra xã hội học của Bộ Y tế cũng chỉ ra: chỉ có khoảng 30% người dân đủ khả năng tự chi trả đầy đủ chi phí khám chữa bệnh; hơn 30% thuộc diện không chịu nổi mức viện phí như hiện nay. 

Mặt khác, mặc dù nền kinh tế tăng trưởng tương đối mạnh song do xuất phát điểm thấp, lại chưa thực sự vững chắc, các lĩnh vực xã hội khác như vấn đề giáo dục, việc làm, an sinh xã hội, môi trường... cũng đòi hỏi cấp bách phải chi rất nhiều, dẫn đến đầu tư cho ngành y tế c n chưa tương xứng mặc dù đầu tư phục vụ khám chữa bệnh cho các bệnh viện vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng đầu tư cho y tế. Do mức sống người dân nói chung còn thấp nên khả năng thu phí để tái đầu tư mở rộng bệnh viện công còn rất hạn chế. Việc xác định các đối tượng nghèo không có khả năng chi trả chi phí khám chữa bệnh để thực hiện các chế độ ưu đãi c n rất khó khăn. 

Sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, đặc biệt trong lĩnh vực y học 

Ngày nay những tiến bộ nhanh chóng của khoa học công nghệ, đặc biệt là việc áp dụng công nghệ cao và hiện đại trong lĩnh vực khám chữa bệnh, chẩn đoán và điều trị đã mở ra cơ hội hiện đại hóa, phát triển bệnh viện cả về số lượng và chất lượng. Bệnh viện nào không chú ý hoặc không có khả năng áp dụng khoa học công nghệ thì chắc chắn sẽ trở nên lạc hậu, khó thu hút khách hàng. Xét lâu dài thì đây cũng là một yếu tố tạo nên năng lực cạnh tranh của bệnh viện trong cơ chế thị trường.

Đối với quản lý tài chính bệnh viện công thì sự phát triển khoa học công nghệ nói chung, công nghệ trong y học nói riêng vừa tạo cơ hội để phát triển bệnh viện, đồng thời cũng đặt ra những thách thức trong bối cảnh thu - chi sẽ ngày càng cao hơn, phức tạp hơn. Rõ ràng là, việc áp dụng các tiến bộ trong lĩnh vực y học và hiện đại hoá bệnh viện đòi hỏi bệnh viện phải có nguồn tài chính đầu tư cho cả công nghệ “cứng” (mua sắm máy móc, trang thiết bị hiện đại) và công nghệ “mềm” (đào tạo bác sĩ, nhân viên kĩ thuật để sử dụng công nghệ hiện đại đó). Vì vậy bệnh viện cần tranh thủ xã hội hoá, đa dạng hoá các nguồn thu trong khuôn khổ luật pháp, nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư ngày càng cao, tạo điều kiện nâng cao năng lực của bệnh viện. 

3.2. Nhân tố bên trong 

3.2.1. Phương hướng chiến lược phát triển của bệnh viện 

Phương hướng chiến lược phát triển bệnh viện quyết định trực tiếp tới hoạt động tài chính cũng như quản lý tài chính của bệnh viện. Do đó, bệnh viện phải xác định được chính xác, đúng đắn phương hướng chiến lược phát triển của mình để từ đó xây dựng các mục tiêu và giải pháp quản lý tài chính phù hợp. Mục tiêu chung mà quản lý tài chính bệnh viện công phải hướng đến là tính hiệu quả và tính công bằng. Tính hiệu quả nghĩa là đảm bảo thực hiện được các mục tiêu của bệnh viện với kết quả cao nhất và chi phí thấp nhất; do đó nó đòi hỏi phải xem xét thận trọng các quyết định đầu tư, mua sắm và sử dụng trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ, phương pháp phân bổ và sử dụng các nguồn lực, hệ thống kiểm soát chi tiêu và chất lượng dịch vụ y tế cung cấp cho nhân dân. Tính công bằng nghĩa là cung cấp dịch vụ y tế đồng đều cho những người có mức độ bệnh tật như nhau, thoả mãn nhu cầu khám chữa bệnh của người dân khi ốm đau với chi phí nhất định mà không đòi hỏi khả năng chi trả của người bệnh là trọng tâm. Thực hiện tính công bằng trong điều kiện nguồn NSNN cũng như các nguồn lực khác của bệnh viện còn rất hạn chế quả là một thách thức lớn đối với quản lý tài chính bệnh viện công. 

Ngày nay để đáp ứng nhu cầu về chăm sóc sức khỏe của nhân dân đang ngày càng tăng lên trong điều kiện nền kinh tế thị trường hội nhập và toàn cầu hóa, phần lớn các bệnh viện công ở nước ta đều xây dựng chiến lược phát triển của mình theo hướng tăng trưởng, đầu tư tài chính cả về chiều rộng và chiều sâu. 

3.2.2. Đội ngũ nhân lực 

Nói cho cùng thì con người là nhân tố trung tâm và quyết định sự thành công của bệnh viện. Đặc biệt do đặc thù của bệnh viện là cung cấp các dịch vụ phục vụ cho chăm sóc sức khoẻ con người nên yếu tố nhân lực của bệnh viện lại càng quan trọng. Nó đòi hỏi đội ngũ y bác sĩ, nhân viên của bệnh viện phải vừa có y đức vừa có tay nghề chuyên môn tốt. 

Trong đội ngũ nhân lực của bệnh viện thì ban lãnh đạo, các cán bộ quản lý bệnh viện mà trực tiếp là bộ phận quản lý tài chính là những người đưa ra các quyết định tài chính, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động và sự phát triển của bệnh viện nói chung. Với đội ngũ cán bộ quản lý tài chính có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có hiểu biết và kinh nghiệm, năng động và trung thực, là điều kiện tiền đề để công tác quản lý tài chính của bệnh viện đi vào nền nếp và ngày càng hoàn thiện, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý tài chính bệnh viện. Ngoài ra đội ngũ cán bộ nhân viên làm việc ở tất cả các bộ phận khác nhau của bệnh viện, thông qua việc thực hiện các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ của mình, đều có ảnh hưởng đến quá trình quản lý tài chính bệnh viện. 

3.2.3. Quy mô và chất lượng khám chữa bệnh của bệnh viện 

Ngày nay do kinh tế xã hội phát triển đòi hỏi quy mô và chất lượng khám chữa bệnh của bệnh viện cũng phải tăng để đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng cao và đa dạng của nhân dân cũng như để cạnh tranh với các hình thức cung cấp dịch vụ y tế khác. Khi quy mô và chất lượng khám chữa bệnh của bệnh viện tăng lên lại đòi hỏi các bệnh viện phải đầu tư mua sắm thiết bị, phương tiện hiện đại, kỹ thuật mới, thuốc mới cũng như phải đầu tư cho đào tạo, bồi dưỡng nâng cao tay nghề của đội ngũ nhân lực. Điều này đặt hoạt động quản lý tài chính bệnh viện trước những thách thức mới trong bối cảnh quy mô và chất lượng khám chữa bệnh của bệnh viện công hiện nay còn hạn chế. Tuy nhiên nếu xác định quy mô bệnh viện phù hợp và nâng cao được chất lượng khám chữa bệnh sẽ tạo cơ sở để tăng thu nhập và cân đối thu chi tài chính cho bệnh viện. 

3.2.4. Văn hoá bệnh viện, đặc biệt là mối quan hệ giữa bệnh viện với khách hàng

Trong cơ chế mới, mối quan hệ giữa bệnh viện và bệnh nhân là mối quan hệ giữa người cung cấp dịch vụ và khách hàng sử dụng các dịch vụ đó. Mối quan hệ đó trước hết phụ thuộc vào năng lực chuyên môn và thái độ phục vụ của đội ngũ y bác sĩ, nhân viên bệnh viện. Khi cán bộ nhân viên bệnh viện có quan hệ tốt với khách hàng của mình, tức là với bệnh nhân, sẽ tạo được uy tín của bệnh viện trước xã hội, tạo khả năng và xu hướng phát triển bệnh viện trong tương lai. Với uy tín trong hoạt động khám chữa bệnh của mình, bệnh viện còn tranh thủ được sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế thông qua các dự án viện trợ không hoàn lại; hoặc liên doanh, liên kết, mở rộng hợp tác đầu tư trong và ngoài nước. Để xây dựng văn hoá bệnh viện theo hướng phục vụ khách hàng, bệnh viện cần có những quy định cụ thể về thái độ và hành vi ứng xử, về y đức và về chuyên môn cho đội ngũ các y bác sĩ và nhân viên của bệnh viện, quan tâm đến công tác giáo dục và có cơ chế thưởng phạt nghiêm minh đối với những người vi phạm những quy định đó. 

Ngoài ra các yếu tố khác như quy mô bệnh viện, vị trí địa lý, hệ thống thông tin… cũng có ảnh hưởng đến công tác quản lý tài chính bệnh viện.

4. Tải về mẫu luận văn về quản lý tài chính bệnh viện

Bạn có thể tham khảo toàn bộ mẫu luận văn này tại đây.
Previous
Next Post »