Dịch vụ viết luận văn tài chính - ngân hàng - kế toán

Dịch vụ viết luận văn tài chính - ngân hàng - kế toán

Cơ sở lý luận về phân tích tài chính doanh nghiệp

Trong bài viết này, chúng tôi xin chia sẻ đến bạn đọc nội dung tổng quan về phân tích tài chính doanh nghiệp, bao gồm: Khái niệm, vai trò, ý nghĩa và nội dung.

Cơ sở lý luận về phân tích tài chính doanh nghiệp

1. Tổng quan về tài chính doanh nghiệp

1.1. Khái niệm về tài chính doanh nghiệp 

Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng hàng hóa cho người tiêu dùng qua thị trường nhằm mục đích sinh lời. Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng là quá trình kết hợp các yếu tố đầu vào như nhà xưởng, thiết bị, nguyên vật liệu… và sức lao động để tạo ra yếu tố đầu ra là hàng hóa và tiêu thụ hàng hóa đó để thu lợi nhuận [13]. 

Trong nền kinh tế thị trường vốn tiền tệ là điều kiện tiên quyết đối với mỗi doanh nghiệp để hình thành nên tài sản ban đầu. Với từng loại hình pháp lý tổ chức, doanh nghiệp có phương thức thích hợp huy động lượng vốn tiền tệ ban đầu, từ đó doanh nghiệp đầu tư mua sắm máy móc thiết bị, nguyên vật liệu…Kết thúc khâu sản xuất, doanh nghiệp thực hiện bán hàng và thu được tiền bán hàng. Với số tiền thu từ bán hàng, doanh nghiệp sử dụng để bù đắp các khoản chi phí vật chất đã tiêu hao, trả tiền công cho người lao động, các khoản chi phí khác, nộp thuế cho nhà nước và phần còn lại là lợi nhuận sau thuế, doanh nghiệp tiếp tục phân phối số lợi nhuận này. Như vậy, quá trình hoạt động của doanh nghiệp cũng là quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ hợp thành hoạt động tài chính của doanh nghiệp. 

Tài chính doanh nghiệp được hiểu là những quan hệ giá trị giữa doanh nghiệp với các chủ thể trong nền kinh tế. 

Các quan hệ tài chính doanh nghiệp chủ yếu gồm [13]: 

Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp và nhà nước: quan hệ này thể hiện chủ yếu ở chỗ doanh nghiệp thực hiện các nghĩa vụ tài chính với nhà nước như: nộp thuế,lệ phí vào ngân sách…Đối với doanh nghiệp còn thể hiện ở việc: Nhà nước đầu tư vốn ban đầu và vốn bổ sung cho doanh nghiệp bằng những cách khác nhau. 

Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế và các tổ chức xã hội khác. 

Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với người lao động trong doanh nghiệp: doanh nghiệp thanh toán tiền lương, thực hiện thưởng phạt vật đối với người lao động trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp…

Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các chủ sở hữu của doanh nghiệp: đầu tư, rút vốn hay góp vốn của chủ sở hữu với doanh nghiệp và trong việc phân chia lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp. 

Quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp: thanh toán giữa các bộ phận nội bộ doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh, trong việc hình thành và sử dụng các quỹ của doanh nghiệp 

Từ các vấn đề nêu trên có thể rút ra một số điểm sau:[13] 

Xét về hình thức, tài chính doanh nghiệp là quỹ tiền tệ trong quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng và vận động gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp. Xét về bản chất, tài chính doanh nghiệp là quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị nảy sinh gắn liền với việc tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ của doanh nghiệp trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp. 

Hoạt động tài chính là một hoạt động của doanh nghiệp nhằm đạt tới các mục tiêu của doanh nghiệp đề ra. Các hoạt động gắn liền với việc tạo lập, phân phối, sử dụng và vận động chuyển hóa của quỹ tiền tệ thuộc hoạt động tài chính của doanh nghiệp. 

1.2. Nội dung tài chính doanh nghiệp 

Tài chính doanh nghiệp bao hàm các nội dung chủ yếu sau:

1.2.1. Lựa chọn và quyết định đầu tư 

Triển vọng của một doanh nghiệp trong tương lai phụ thuộc rất lớn vào quyết định đầu tư dài hạn với quy mô lớn như quyết định đầu tư đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, sản xuất sản phẩm mới...Để đi đến quyết định đầu tư đòi hỏi doanh nghiệp phải xem xét cân nhắc trên nhiều mặt về kinh tế, kĩ thuật và tài chính. Trong đó về mặt tài chính phải xem xét dòng tiền ra và dòng tiền vào liên quan đến khoản đầu tư về mặt tài chính. Đó là quá trình hoạch định dự toán vốn đầu tư và đánh giá hiệu quả tài chính của việc đầu tư. 

1.2.2. Xác định nhu cầu vốn và tổ chức huy động vốn đáp ứng kịp thời, đầy đủ nhu cầu vốn cho hoạt động của doanh nghiệp 

Tất cả các hoạt động của doanh nghiệp đều đòi hỏi phải có vốn. Tài chính doanh nghiệp phải xác định nhu cầu vốn cần thiết cho các hoạt động của doanh nghiệp ở trong kì (bao hàm vốn dài hạn và vốn ngắn hạn). Tiếp theo, phải tổ chức huy động các nguồn vốn đáp ứng kịp thời, đầy đủ và có lợi cho các hoạt động của doanh nghiệp. Để đi đến quyết định lựa chọn hình thức và phương pháp huy động thích hợp, cần xem xét cân nhắc trên nhiều mặt như: kết cấu nguồn vốn, những điểm lợi của từng hình thức huy động vốn, chi phí cho việc sử dụng mỗi nguồn vốn. 

1.2.3. Sử dụng có hiệu quả số vốn hiện có, quản lý chặt chẽ các khoản phải thu, chi và đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp 

Tài chính doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp huy động tối đa số vốn hiện có doanh nghiệp vào hoạt động kinh doanh, giải phóng kịp thời số vốn ứ đọng, theo dõi chặt chẽ mọi khoản chi phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Thường xuyên tìm biện pháp thiết lập sự cân bằng giữa thu và chi bằng tiền, đảm bảo cho doanh nghiệp luôn có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn.

1.2.4. Thực hiện phân phối lợi nhuận, trích lập và sử dụng các quỹ của doanh nghiệp 

Thực hiện phân phối hợp lý lợi nhuận sau thuế cũng như trích lập và sử dụng tốt các quỹ của doanh nghiệp sẽ góp phần quan trọng vào việc phát triển của doanh nghiệp và cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người lao động trong doanh nghiệp. 

1.2.5. Kiểm soát thường xuyên tình hình hoạt động của doanh nghiệp 

Thông qua tình hình thu, chi tiền tệ hàng ngày, các báo cáo tài chính, hỉ tiêu tài chính cho phép kiểm soát được tình hình hoạt động của doanh nghiệp. Mặt khác, cần định kỳ tiến hành phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp. Quá phân tích, cần đánh giá được hiệu quả sử dụng vốn, những điểm mạnh, điểm yếu trong quản lý và dự báo trước tình hình tài chính của doanh nghiệp, từ đó giúp cho các nhà lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp kịp thời đưa ra các quyết định thích hợp điều chỉnh hoạt động kinh doanh và tài chính. 

1.2.6. Thực hiện kế hoạch hóa tài chính 

Các hoạt động tài chính của doanh nghiệp cần được dự kiến trước thông qua việc lập kế hoạch tài chính. Có kế hoạch tài chính tốt thì doanh nghiệp mới có thể đưa ra các quyết định tài chính thích hợp nhằm đạt tới các mục tiêu của doanh nghiệp. Quá trình thực hiện kế hoạch tài chính cũng là quá trình chủ động đưa ra giải pháp hữu hiệu khi thị trường biến động. 

1.3. Vai trò của tài chính doanh nghiệp 

1.3.1. Tài chính doanh nghiệp huy động vốn đảm bảo các hoạt động của doanh nghiệp diễn ra bình thường và liên tục [13] 

Vốn tiền tệ là tiền đề cho các hoạt động của doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp thường nảy sinh nhu cầu vốn ngắn hạn và dài hạn cho hoạt động kinh doanh thường xuyên cũng như cho đầu tư phát triển của doanh nghiệp. Việc thiếu vốn sẽ khiến cho các hoạt động của doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc không triển khai được. Do vậy,việc đảm bảo cho các hoạt động của doanh nghiệp được tiến hành bình thường, liên tục phụ thuộc rất lớn vào việc tổ chức huy động vốn của tài chính doanh nghiệp. 

1.3.2. Tài chính doanh nghiệp giữ vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp [13]

Việc đưa ra quyết định đầu tư đúng đắn phụ thuộc rất lớn vào việc đánh giá, lựa chọn đầu tư từ góc độ tài chính. 

Việc huy động vốn kịp thời, đầy đủ giúp doanh nghiệp chớp được cơ hội kinh doanh. 

Lựa chọn các hình thức và phương pháp huy động vốn thích hợp có thể giảm bớt chi phí sử dụng vốn góp phần rất lớn tăng lợi nhuận của doanh nghiệp. 

Sử dụng đòn bẩy kinh doanh và đặc biệt là sử dụng đòn bẩy tài chính hợp lý là yếu tố gia tăng đáng kể tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu. 

Huy động vốn tối đa số vốn hiện có vào hoạt động kinh doanh có thể tránh được thiệt hại do ứ đọng vốn, tăng vòng quay tài sản, giảm được số vốn vay từ đó giảm được tiền trả lãi vay góp phần rất lớn tăng lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp. 

1.3.3. Tài chính doanh nghiệp là công cụ rất hữu ích để kiểm soát tình hình kinh doanh của doanh nghiệp [13] 

Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng là quá trình vận động, chuyển hóa hình thái của vốn tiền tệ. Thông qua tình hình thu, chi tiền tệ hàng ngày, tình hình thực hiện các chỉ tiêu tài chính và đặc biệt là các báo cáo tài chính, có thể kiểm soát kịp thời, tổng quát các mặt hoạt động của doanh nghiệp. Qua đó cần phát hiện nhanh chóng những tồn tại và những tiềm năng chưa được khai thác để đưa ra quyết định thích hợp điều chỉnh các hoạt động nhằm đạt tới các mục tiêu đề ra của doanh nghiệp.

Trong nền kinh tế thị trường, vai trò của tài chính doanh nghiệp liên quan và ảnh hưởng tới tất cả các hoạt động của doanh nghiệp.

Quy mô kinh doanh và nhu cầu vốn cho hoạt động của doanh nghiệp ngày càng lớn. Mặt khác, thị trường tài chính càng phát triển nhanh chóng, các công cụ tài chính để huy động vốn càng phong phú và đa dạng. Chính vì vậy quyết định huy động vốn, quyết định đầu tư… ảnh hưởng ngày càng lớn đến tình hình và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. 

Các thông tin về tình hình tài chính là căn cứ quan trọng đối với các nhà quản lý doanh nghiệp để kiểm soát và chỉ đạo các hoạt động của doanh nghiệp. 

2. Khái niệm, vai trò, ý nghĩa của phân tích tài chính doanh nghiệp 

2.1. Khái niệm về phân tích tài chính doanh nghiệp 

Lưu Thị Hương (2005, trang 29) trong giáo trình tài chính doanh nghiệp có nêu “Phân tích tài chính là sử dụng một tập hợp các khái niệm, phương pháp và các công cụ cho phép xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác về quản lý nhằm đánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp, đánh giá rủi ro, mức độ và chất lượng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó”. 

Ngô Thế Chi,Nguyễn Trọng Cơ (2009, trang 5)trong giáo trình phân tích tài chính doanh nghiệp có nêu “Phân tích tài chính doanh nghiệp là tổng thể các phương pháp sử dụng để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp trong quá khứ và hiện tại. Từ đó dự đoán tình hình tài chính trong tương lai, qua đó giúp các đối tượng quan tâm đưa ra các quyết định kinh tế phù hợp với lợi ích của họ”.

Vậy phân tích tài chính doanh nghiệp là việc nghiên cứu cho phép đánh giá được khái quát và toàn diện các mặt hoạt động của doanh nghiệp, thấy rõ được những điểm mạnh, điểm yếu, tiềm năng của doanh nghiệp và đề xuất các giải pháp có hiệu quả giúp doanh nghiệp ngày càng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. 

2.2. Vai trò và ý nghĩa của phân tích tài chính doanh nghiệp 

Hoạt động sản xuất kinh doanh có mối quan hệ trực tiếp với hoạt động tài chính của doanh nghiệp và có tác động qua lại lẫn nhau.Vì vậy, việc phân tích tình hình tài chính có ý nghĩa quan trọng không chỉ với bản thân doanh nghiệp mà còn là mối quan tâm của các đối tượng bên ngoài liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp. 

2.2.1. Phân tích tài chính cho nhà quản trị 

Nhà quản trị sử dụng phân tích tài chính nhằm đánh giá hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, xác định điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp. Đó là cơ sở để định hướng các quyết định của Ban Tổng giám đốc, Giám đốc tài chính, dự báo tài chính, kế hoạch đầu tư, ngân quỹ và kiểm soát các hoạt động quản lý. 

2.2.2. Phân tích tài chính cho nhà đầu tư 

Nhà đầu tư cần biết tình hình thu nhập của chủ sở hữu, lợi tức cổ phần và giá trị tăng thêm của vốn đầu tư. Họ quan tâm tới phân tích tài chính để nhận biết khả năng sinh lãi của doanh nghiệp. Đó là một trong những căn cứ giúp họ ra quyết định bỏ vốn vào doanh nghiệp hay không[11]. 

2.2.3. Phân tích tài chính đối với người cho vay

Người cho vay thông qua phân tích tài chính để nhận biết khả năng vay và trả nợ của khách hàng. Chẳng hạn, để quyết định cho vay, một trong những vấn đề mà người cho vay cần xem xét là doanh nghiệp thực sự có nhu cầu vay hay không, khả năng trả nợ của doanh nghiệp như thế nào [11]. 

2.2.4. Phân tích tài chính đối với cơ quan nhà nước 

Thông qua việc phân tích tài chính của doanh nghiệp, cơ quan chức năng của nhà nước có thể nắm được tình hình hoạt động của doanh nghiệp, đưa ra các chính sách kinh tế phù hợp hay các quyết định đầu tư đối với các doanh nghiệp nhà nước [11]. 

Như vậy, mối quan tâm hàng đầu của các nhà phân tích tài chính là đánh giá khả năng xảy ra rủi ro phá sản tác động tới các doanh nghiệp mà biểu hiện của nó là khả năng thanh toán, khả năng cân đối vốn, khả năng hoạt động cũng như khả năng sinh lãi của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, các nhà phân tích tài chính tiếp tục nghiên cứu và đưa ra những dự đoán về kết quả hoạt động nói chung và mức doanh lợi nói riêng của doanh nghiệp trong tương lai [9].Nói cách khác, phân tích tài chính là cơ sở để dựbáo tài chính cho doanh nghiệp.Việc phân tích tài chính có thể được sử dụng vào những mục đích khác nhau như trong việc đưa các quyết định nội bộ cho doanh nghiệp, hay với mục đích nghiên cứu, thông tin hoặc theo vị trí của nhà phân tích trong doanh nghiệp hoặc ngoài doanh nghiệp. 

3. Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp 

3.1. Phân tích khái quát kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thông qua báo cáo kết quả kinh doanh

Báo cáo kết quả kinh doanh cho biết sự dịch chuyển của tiền trong quá trình sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp và cho phép dự tính khả năng hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai. Báo cáo kết quả kinh doanh cũng giúp nhà phân tích so sánh doanh thu với số tiền thực nhập quỹ khi bán hàng hóa, dịch vụ, so sánh tổng chi phí phát sinh với số tiền thực xuất quỹ để vận hành doanh nghiệp. Trên cơ sở doanh thu và chi phí, có thể xác định được kết quả sản xuất – kinh doanh lãi hay lỗ trong năm. Như vậy, báo cáo kết quả kinh doanh phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định. Nó cung cấp những thông tin tổng hợp về tình hình và kết quả sử dụng các tiềm năng về vốn, lao động, kỹ thuật và trình độ quản lý sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp [11].

Mục tiêu cơ bản của phân tích khái quát kết quả hoạt động kinh doanh đối một doanh nghiệp là tìm hiểu nguồn gốc, thực trạng và xu hướng của thu nhập, chi phí, lợi nhuận của doanh nghiệp đó. Khi phân tích kết quả hoạt động kinh doanh thông qua báo cáo kết quả kinh doanh cần xem xét các vấn đề chủ yếu sau: 

Sự biến động của từng chỉ tiêu giữa thực tế kỳ này với thực tế kỳ trước để thấy được thu nhập, chi phí, lợi nhuận của doanh nghiệp có phù hợp với đặc điểm, phương hướng kinh doanh hay không. Khi phân tích đặc biệt chú ý đến các chỉ tiêu doanh thu, giá vốn hàng bán, chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí bán hàng từ đó tìm ra nguyên nhân dẫn đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ.

Thu nhập, chi phí, lợi nhuận của doanh nghiệp có thực hay không và được tạo ra từ những nguồn nào, sự hình thành như vậy có phù hợp với chức năng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hay không. 

3.2. Phân tích cấu trúc tài chính doanh nghiệp 

Phân tích cấu trúc tài chính là việc phân tích khái quát tình hình huy động và sử dụng vốn của doanh nghiệp, phân tích mối quan hệ giữa tình hình huy động vốn và sử dụng vốn. Phân tích cấu trúc tài chính giúp cho các nhà quản lý doanh nghiệp nắm bắt được tình hình tài sản và các nguồn tài trợ tài sản, là căn cứ giúp các nhà quản lý đưa ra những chính sách huy động và sử dụng vốn cho doanh nghiệp có hiệu quả, tránh rủi ro. 

3.2.1. Phân tích khái quát tình hình huy động và sử dụng vốn a. Phân tích cơ cấu và biến động của tài sản 

Dựa vào số liệu trên bảng cân đối kế toán để so sánh số tổng cộng về tài sản giữa cuối kỳ và đầu kỳ hoặc các năm trước kể cả về số tuyệt đối và số tương đối nhằm xác định sự biến động về quy mô tài sản của doanh nghiệp qua các kỳ kinh doanh. Xem xét sự biến động về quy mô các chỉ tiêu chi tiết như vốn bằng tiền, đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu, hàng tồn kho… Qua đó nhằm đánh giá tình hình tài chính trong quá khứ, hiện tại để làm cơ sở dự đoán tiềm năng tài chính tương lai của doanh nghiệp [19] 

Ngoài việc so sánh tổng tài sản cuối kỳ so với đầu năm còn phải xem xét tỷ trọng tỷ trọng từng loại tài sản chiếm trong tổng tài sản và xu hướng biến động của việc phân bổ tài sản. Điều này được đánh giá trên tính chất kinh doanh và tình hình biến động của từng bộ phận. 

Bên cạnh đó, việc đánh giá cơ cấu tài sản của doanh nghiệp thông qua hệ số cơ cấu tài sản. Hệ số này phản ánh mức độ đầu tư vào các loại tài sản của doanh nghiệp. Hệ số này bao gồm: tỷ suất đầu tư vào tài sản ngắn hạn và tỷ suất đầu tư vào tài sản dài hạn[13].




Phân tích cơ cấu và biến động của nguồn vốn: 

Phân tích cơ cấu nguồn vốn để đánh giá khả năng tự tài trợ về mặt tài chính cũng như mức độ tự chủ,chủ động trong kinh doanh và những khó khăn mà doanh nghiệp phải đương đầu [19]. 

Đối với nguồn hình thành tài sản cần xem xét tỷ trọng của từng loại chiếm trong tổng số cũng như xu hướng biến động của chúng.Nếu nguồn vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng cao trong tổng số thì doanh nghiệp có đủ khả năng tự đảm bảo về mặt tài chính và mức độ độc lập của doanh nghiệp đối với chủ nợ là cao.Ngược lại nếu công nợ phải trả chiếm chủ yếu trong tổng số nguồn vốn thì khả năng đảm bảo về mặt tài chính của doanh nghiệp sẽ thấp. 

Ngoài ra,phân tích cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp thông qua hệ số cơ cấu nguồn vốn. Hệ số cơ cấu nguồn vốn là một hệ số tài chính hết sức quan trọng đối với nhà quản lý doanh nghiệp, với các chủ nợ cũng như nhà đầu tư.

Hệ số cơ cấu nguồn vốn được thể hiện chủ yếu qua: 

Hệ số tài trợ: là chỉ tiêu phản ánh mức độ độc lập về tài chính hay khả năng tự đảm bảo về tài chính của doanh nghiệp. Hệ số này cho biết vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng bao nhiêu trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp. Hệ số này càng lớn chứng tỏ mức độ độc lập về tài chính của doanh nghiệp càng cao và ngược lại [19].




Hệ số nợ so với vốn chủ sở hữu: là chỉ tiêu cho biết mối quan hệ giữa tổng nợ và vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp. Tỷ số này càng lớn chứng tỏ doanh nghiệp ưu tiên huy động vốn thông qua kênh nợ phải trả hơn là sử dụng vốn chủ sở hữu là kênh nguồn vốn an toàn nhưng có chi phí vốn cao hơn và ngược lại [19].




Hệ số nợ: là chỉ tiêu cho biết số nợ mà doanh nghiệp phải trả cho các doanh nghiệp hoặc cá nhân có liên quan đến hoạt động kinh doanh. Tỷ suất này thể hiện khả năng tự chủ về vốn của doanh nghiệp và tỷ suất này càng nhỏ càng cho thấy khả năng tự chủ về vốn của doanh nghiệp càng tốt [13].




3.2.2. Phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn 

Mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn thể hiện sự tương quan về giá trị tài sản và cơ cấu vốn của doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

Mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn giúp nhà phân tích phần nào nhận thức được sự hợp lý giữa nguồn vốn doanh nghiệp huy động và việc sử dụng nguồn vốn đó trong hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả hay không. 

Mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn được thể hiện thông qua các chỉ tiêu sau:

Hệ số tài sản so với vốn chủ sở hữu: phản ánh mức độ đầu tư tài sản của doanh nghiệp bằng vốn chủ sở hữu. Hệ số này càng lớn hơn 1 thì mức độ độc lập về tài chính của doanh nghiệp càng thấp vì tài sản của doanh nghiệp được tài trợ chỉ một phần bằng vốn chủ sở hữu [19].

Để xem toàn bộ nội dung về cơ sở lý luận phân tích doanh nghiệp, bạn có thể tải về tại đây.
Latest
Previous
Next Post »