Dịch vụ viết luận văn tài chính - ngân hàng - kế toán

Dịch vụ viết luận văn tài chính - ngân hàng - kế toán

Chia sẻ mẫu luận văn tài chính hành vi

luận văn tài chính hành vi

Bạn chưa biết cách làm bài luận văn tài chính hành vi? Bạn cần xem tài liệu tham khảo liên quan đến đề tài của mình? Hãy tham khảo ngay bài mẫu luận văn mà luanvantaichinh.net chia sẻ trong bài viết này.

>>> Xem thêm: Tổng quan về ngân hàng điện tử

1. Lý thuyết tài chính

1.1. Lý thuyết tài chính cơ bản

Nền tảng cơ bản dựa vào khung kiến thức được xây dựng trên nguyên tắc arbitrage của Miller và Modigliani, lý thuyết thị trường hiệu quả của Markowitz, lý thuyết định giá tài sản của Sharpe, Lintner và Black và lý thuyết quyền chọn giá của Black, Scholes và Merton. Những nguyên tắc này xem xét thị trường hiệu quả và ở mức phân tích tiêu chuẩn cao.

1.2. Lý thuyết thị trường hiệu quả

Theo lý thuyết thị trường hiệu quả, giá cả của các tài sản tài chính kết hợp tất cả thông tin và giá cả được xem xét như là điều kiện dự đoán tốt nhất của giá trị đầu tư thật sự tại tất cả thời gian. Lý thuyết thị trường hiệu quả dựa vào nguyên tắc rằng mọi người hành xử có lý trí, tối đa hóa lợi ích mong đợi một cách chính xác và xử lý được tất cả thông tin. Nói một cách khác, tài sản tài chính thì luôn luôn được định giá hợp lý, và được phổ biến tới công chúng. Giá chứng khoán được mô tả xấp xỉ một cách ngẫu hứng theo thời gian: giá thay đổi thì không thể dự đoán bởi vì chúng xuất hiện chỉ trong sự phản ứng đối với thông tin thật sự mới, và chỉ bởi thông tin mới và không dự đoán được (Shiller, 2000). Bởi vì sự thật rằng tất cả thông tin thì được chứa đựng trong giá chứng khoán thì không thể kiếm được lợi nhuận trên trung bình và đánh bại thị trường theo thời gian mà không gánh lấy rủi ro.

Tuy nhiên, bất cứ ai từng trải qua thời kỳ bong bóng internet và tiếp theo đó là các cuộc khủng hoảng đều nhận ra lý thuyết thị trường hiệu quả không thể giải thích.Và trong những trường hợp như vậy, nghiên cứu về tâm lý học lại hoàn toàn có thể giúp chúng ta hiểu được thị trường tài chính. Những hành vi vô lý một cách hệ thống là cách giải thích hợp lý dễ chấp nhận đối với những bất thường trên thị trường chứng khoán.

1.3. Tài chính hành vi

Tài chính học hành vi là lĩnh vực tài chính sử dụng các lý thuyết cơ bản dựa trên tâm lý con người để giải thích những bất thường trên thị trường chứng khoán. Một số miêu tả và giải thích của tài chính học hành vi khá thú vị, mô phỏng hành vi thị trường bằng các cuộc thử nghiệm rất đơn giản như sau: Cho ai đó một lựa chọn hoặc là sẽ có chắc chắn 50.000 đồng hoặc là sẽ chơi trò đồng xu xấp ngửa, nếu thắng sẽ nhận được 100.000 đồng, và ngược lại sẽ không nhận được gì cả. Có vẻ như trò chơi này đầy may rủi, do đó người ta chọn việc bỏ túi chắc chắn 50.000 đồng. Ngược lại, nếu phải lựa chọn giữa việc mất chắc chắn 50.000 đồng hoặc cũng chơi trò đồng xu xấp ngửa và mất 100.000 đồng hoặc không mất gì cả. Họ có thể sẽ chọn chơi xấp ngửa. Sự may rủi trong việc tung đồng xu xấp ngửa trong cả hai trường hợp là tương đương nhau, nhưng con người lại chọn cách tham gia trò chơi để tiết kiệm những khoản lỗ, thậm chí là trò chơi này có thể sẽ mang đến một khoản lỗ lớn hơn. Điều này cho thấy khuynh hướng con người coi khả năng bù đắp một khoản lỗ còn quan trọng hơn khả năng kiếm được một lợi nhuận lớn hơn.

Như vậy hành vi tài chính là một kiểu tài chính mới, nó giúp bổ sung vào các lý thuyết tài chính cơ bản bằng cách giải thích về hành vi của quá trình ra quyết định. Ngược lại với lý thuyết của Markowitz và Sharp, hành vi tài chính giải quyết vấn đề của các cá nhân và cách mà họ thu thập và sử dụng thông tin. Hành vi tài chính tìm cách để hiểu và dự đoán được quá trình ra quyết định có quan hệ đến hệ thống thị trường tài chính. Ngoài ra, nó còn tập trung vào việc áp dụng các nguyên lý tâm lý và kinh tế để cải thiện việc ra quyết định tài chính (Olsen, 1998).

Phần sau đây sẽ giới thiệu những kết quả cơ bản và những nguyên lý lý thuyết trong tài chính hành vi mà thường mâu thuẫn với giả thuyết của lý thuyết thị trường hiệu quả.

1.3.1. Lý thuyết kỳ vọng

Lý thuyết kỳ vọng là một lý thuyết được sử dụng để thay thế công thức toán học của lý thuyết tối đa hóa lợi ích mong đợi. Lý thuyết kỳ vọng thường trình bày hành vi lý trí thật sự dưới cái chắc chắn.Theo lý thuyết lợi ích mong đợi, những nhà đầu tư không thích rủi ro. Không thích rủi ro được thể hiện với độ lõm của đường lợi ích biên, chẳng hạn như lợi ích biên của sự giàu có giảm. Mỗi đơn vị tăng thêm của sự giàu có thì có giá trị ít hơn sự tăng trước đó về sự giàu có. Mặc dù sự hấp dẫn khác nhau của lý thuyết lợi ích, nó được biết rằng, lý thuyết này đã sai khi dự đoán hành vi con người, ít nhất là dưới những hoàn cảnh chắc chắn. Kahneman và Tversky trình bày trong lý thuyết kỳ vọng (1979) về những bằng chứng thực nghiệm sau để minh họa cách nhà đầu tư xâm phạm lý thuyết lợi ích.

Khi những nghiên cứu của họ được yêu cầu chọn giữa một vé số mà mang lại, 25% cơ hội của việc thắng 3.000 và một tấm vé số có 20% cơ hội của việc thắng 4.000, 65% mọi người chọn cái cơ hội sau (20%; 4.000). Trái ngược với những chủ đề được yêu cầu chọn giữa 100% cơ hội thắng 3.000 và 80% cơ hội thắng 4.000, 80% chọn cái đầu tiên (100%; 3.000). Lý thuyết lợi ích cho rằng họ không nên chọn khác nhau trong hai trường hợp bởi vì theo sự lựa chọn thứ hai thì tương tự như cái đầu tiên (ngoại trừ rằng tất cả khả năng thì không đổi). Ngược lại, theo lý thuyết kỳ vọng, sự yêu thích của cá nhân cho lựa chọn đầu tiên trong xổ số, khi có sự chắc chắn, minh họa những gì mà được gọi là “hiệu quả chắc chắn”, một sự yêu thích những kết quả chắc chắn.

Một khám phá nữa của lý thuyết kỳ vọng là chức năng giá trị của Kahneman và Tversky (1979). Theo lý thuyết lợi ích mong đợi truyền thống, đường lợi ích là đường dốc xuống cho tất cả mức độ giàu có. Trái lại, theo lý thuyết kỳ vọng, độ lõm của đường lợi ích thì dốc lên đối với những mức độ giàu có dưới một điểm tham khảo và dốc xuống sau điểm tham khảo. Điểm tham khảo được quyết định bởi hai cá nhân như là một điểm so sánh, như một sự đo lường của mức độ giàu có. Ở những mức độ giàu có dưới điểm tham khảo, nhà đầu tư là người tìm kiếm rủi ro, ví dụ họ chuẩn bị để làm những cá độ để nằm trên mức độ giàu có yêu thích của họ. Trong khi đó, tại những mức độ trên điểm tham khảo, đường giá trị thì lõm xuống, hợp với lý thuyết truyền thống và nhà đầu tư thể hiện sự không ưa thích rủi ro. Kahneman và Tversky trình bày rằng mọi người là những người yêu thích rủi ro đối với những mất mát.

Hai hiện trạng này, sự yêu thích đối với kết quả chắc chắn và sự yêu thích rủi ro khi đối diện với mất mát, được khám phá bởi Kahneman và Tversky, có lẽ giải thích vài chính xác cho hành vi vô ý thức của nhà đầu tư. Sự thật rằng điểm tham khảo trên đường giá trị luôn luôn dịch chuyển với sự giàu có để giữ mức độ lợi ích hiện tại, nhà đầu tư sẽ luôn luôn hành xử trong cách không ưa thích rủi ro thậm chí khi một lượng nhỏ của giàu có đang trong hoài nghi. Thuật ngữ này được gọi là sự không ưa thích rủi ro mà được trình bày trong những phần sau.

1.3.2. Sự không yêu thích rủi ro

Kahneman và Tversky thật đúng khi cung cấp rằng lý thuyết kỳ vọng mô tả cách những người đưa ra những quyết định hành xử khi đối đầu với sự lựa chọn dưới cái không chắc chắn. Đường giá trị chỉ ra tính không cân xứng rõ ràng giữa những giá trị mà con người đặt vào được và mất. Tính không cân xứng này được gọi là sự ghét rủi ro. Những bằng chứng thực nghiệm chỉ ra rằng mất mát thì được cân nặng gấp hai lần so với cái được.-mất 1$ thì người ta sẽ buồn gấp hai lần so với niềm vui của việc lãi được 1$. Điều này có thể diễn tả như là khái niệm mà mọi người có xu hướng đánh cược trong việc mất mát, chẳng hạn, nhà đầu tư có xu hướng giữ ở vị trí mất với hy vọng rằng giá cuối cùng sẽ phục hồi. Điều này bởi vì sự thật rằng đường lợi ích dưới lý thuyết triển vọng thì hướng lên đối với mỗi mức độ giàu có dưới điểm tham khảo của mỗi cá nhân. Lý thuyết triển vọng chỉ ra rằng những nhà đầu tư sẽ không thích rủi ro trong những cái họ sẽ đạt được.

Samuelson (1963) minh họa một ví dụ của sự không yêu thích rủi ro. Ông ta hỏi một đồng nghiệp rằng ông ta sẽ chấp nhận một vụ cá độ mà trả cho ông ta 200$ với khả năng 50% và một 100$ với khả năng 50%. Người đồng nghiệp nói rằng anh ta sẽ không chấp nhận vụ cá cược này nhưng anh ta sẽ cá một trăm lần. Với 100 lần cá, anh ta mong rằng tổng tiền thắng được là 5.000$ và anh ta hầu như chẳng có cơ hội mất một đồng nào. Sai lầm chấp nhận nhiều lần cá cược như vậy khi người ta xem xem xét chúng một cách riêng lẻ như vậy được gọi là “tâm lý sợ thua lỗ thiển cận” bởi Benartzi và Thaler (1995). Sự không yêu thích rủi ro mờ nhạt là sự kết nối của sự nhạy cảm lớn hơn của việc mất hơn đối với việc nhận và một xu hướng để đánh giá kết quả thường xuyên. Hành vi của các nhà đầu tư thỉnh thoảng được nói là thiển cận, thiếu tầm nhìn, và vì chỉ nhìn nhận sự việc từ một phía nên họ thường bỏ qua rất nhiều thứ có thể xảy ra, do vậy mọi nhà đầu tư chỉ lên kế hoạch cho một thời kỳ rõ ràng mà thôi (Bodie et al., 2000). Hai giả định của việc không yêu thích rủi ro thiển cận thì được kiểm tra thực nghiệm. Đầu tiên những nhà đầu tư không thích rủi ro sẽ sẵn sàng chấp nhận rủi ro nếu họ đánh giá việc đầu tư của họ ít thường xuyên hơn. Thứ hai, nếu kết quả tăng đủ để hạn chế việc mất mát, nhà đầu tư sẽ chấp nhận thêm rủi ro. Không yêu thích rủi ro chỉ ra rằng mọi người có xu hướng nhạy cảm hơn với sự giảm trong việc đạt được lãi hơn là sự tăng. Điều này được phản ánh trong đường giá trị lý thuyết triển vọng mà có một cái giống lúc ban đầu. Không yêu thích rủi ro có thể giải thích rằng xu hướng của nhà đầu tư để giữ chứng khoán bị lỗ trong khi bán chứng khoán lời quá sớm. Shefrin và Statman (1985) gọi sự xuất hiện này “bán lợi nhuận quá sớm và cỡi lỗ quá lâu” như là kết quả của khuynh hướng. Khi nhà đầu tư xem xét chứng khoán dựa trên cơ bản cá nhân, thì sự không ưa thích rủi ro trong việc có lợi nhuận sẽ dẫn tới việc họ bán chứng khoán đang tăng giá quá nhanh, bằng cách đẩy giá giảm có mối liên hệ với cơ bản. Điều này thiết lập một giai đoạn cho việc tăng giá thêm khi giá chứng khoán trở lại giá trị cơ bản, ngược lại, tìm kiếm rủi ro trong mất mát sẽ gây cho nhà đầu tư giữ quá lâu khi giá giảm, bằng cách đó giá chứng khoán với đà âm vượt qua giá trị cơ bản.

1.3.3. Tính toán trí óc

Tính toán trí óc (mental accounting). Đây là một dạng của định nghĩa hẹp. Chúng ta có xu hướng tách riêng các quyết định mà đúng ra phải được kết hợp lại với nhau vào các tài khoản ảo trong trí tưởng tượng của chúng ta (metal account) và tối đa hoá lợi ích từng tài khoản. Và vì thế, đôi khi chúng ta đưa ra các quyết định nhìn tưởng là hợp lý, mà thật ra là sai lầm. Ví dụ, có người có xu hướng tách biệt ra hai ngân sách gia đình, một dành cho mua thức ăn trong gia đình, một dành cho đi ăn nhà hàng cuối tuần. Và khi chi tiêu mua đồ ăn, người này thường không mua hải sản cao cấp vì nghĩ rằng nó mắc và chỉ ăn thịt bình thường, nhưng khi vào ăn nhà hàng, người này lại gọi tôm hùm, thay vì ăn một bữa thịt bình thường (đương nhiên rẻ hơn tôm hùm). Nếu thay vì như vậy, người này đi mua tôm hùm cho bữa ăn tại nhà, và chỉ ăn thịt bình thường trong nhà hàng, anh ta có thể tiết kiệm tiền. Vấn đề nằm ở chỗ anh ta đã tách biệt ra hai tài khoản riêng cho thức ăn tại nhà và đi ăn cuối tuần!

Sử dụng tính toán bất hợp lý và định nghĩa hẹp, chúng ta có thể giải thích nhiều hiện tượng như lựa chọn nghịch với sở thích (preference reversals), sợ thua lỗ (loss aversion), và hiệu ứng phân bổ tài khoản khá phổ biến, thể hiện cơ bản ở chỗ người ta sẵn sàng thực hiện ngay những lệnh mang lại lời nhỏ, nhưng trì hoãn không thực hiện lệnh dừng lỗ khi xuất hiện những khoản lỗ nhỏ. Ví dụ, khi mua cổ phiếu giá 30.000, sau đó giá giảm xuống 22.000, người ta vẫn không bán cổ phiếu (thậm chí còn mua tiếp) và chờ đến khi giá lên trên 30.000 một chút mới bán ngay kiếm lời. Giá có giảm tiếp người ta cũng cứ giữ cổ phiếu đó tiếp. Vì họ đã tách biệt giữa “tài khoản lời” và “tài khoản lỗ” trong tâm trí của mình, cho nên họ cố tối đa hoá tài khoản lời, và tối thiểu hoá tài khoản lỗ, nên giá lên một chút thì bán, giá xuống thì cứ giữ, xem như nó chưa bị chuyển qua tài khoản lỗ. Hiệu ứng phân bổ tài khoản này cũng có thể được lý giải bằng hiệu ứng tự lừa dối (sợ rằng nếu bán mà bị lỗ thì sẽ cảm thấy bản thân ra quyết định đầu tư kém), hay hiệu ứng tiếc nuối (lỡ bán rồi mà giá lên thì sao). Hiệu ứng phân bổ tài khoản lý giải một phần vì sao trong thị trường tăng giá thì khối lượng giao dịch tăng cao hơn khi thị trường giảm giá tại Mỹ và Nhật.

Vai trò của mô hình này cũng có thể được minh họa trong những rắc rối của việc phân chia cổ tức qua đó các nhà đầu tư cá nhân tách biệt cổ tức từ lãi vốn trong việc xem xét một chứng khoán. Trong một thế giới không có thuế và chi phí giao dịch các nhà đầu tư không quan trọng giữa một đồng cổ tức và một đồng vốn. Thêm vào đó, trong thế giới mà cổ tức bị đánh thuế nặng hơn lãi vốn, những nhà đầu tư biết rằng họ sẽ bất lợi khi công ty công bố trả cổ tức. Thế thì tại sao công ty trả cổ tức? Một đồng đô la cổ tức khác một đồng đô la vốn theo lý thuyết kỳ vọng bởi vì nhà đầu tư gắn đồng đô la thành hai miếng kim loại riêng biệt. Vì thế, một chứng khoán khi trả cổ tức làm giảm giá nhưng nhà đầu tư lại do dự khi bán chứng khoán đó vì sợ mất miếng kim loại có chứa thu nhập cổ tức. Cổ tức có thể được nghĩ như là một sự đạt được tách biệt từ lãi vốn bởi vì sự tăng trong bản thân giá chứng khoán. Việc sử dụng cổ tức để tránh hối tiếc khi bán chứng khoán mà có lẽ tăng trong giá trị sau này. Shefrin và Statman (1994) cũng tranh cãi rằng những nhà đầu tư cá nhân nghĩ rằng có họ sẽ có một phần an toàn trong danh mục đầu tư mà được bảo vệ từ phía rủi ro và một phần rủi ro được thiết kế để nhận lấy sự giàu có.

Tính toán trí óc có thể có đưa đến kết quả là” tiền tốt được ném vào sau tiền xấu” bởi hoạt động liên tục của việc mạo hiểm đầu tư không lợi nhuận với hy vọng rằng việc phục hồi sẽ bằng một cách nào đó xảy ra. Nó cũng giải thích định kiến mà có lợi ích cho các nhà đầu tư với sự không tự kiểm soát hoàn hảo – một dạng hiện tượng được trình bày sau đây.

1.3.4. Tự điều chỉnh hành vi


Tính toán trí óc và khung cấu trúc có lẽ được sử dụng để làm giảm vấn đề tự điều chỉnh, ví dụ, bằng cách thiết lập tài khoản đặc biệt mà được xem xét là vượt qua giới hạn. Glick(1957) báo cáo rằng việc do dự để nhận ra mất mát hình thành nên vấn đề tự điều chỉnh; ông ta mô tả những nhà đầu cơ chuyên nghiệp người mà có khuynh hướng để cho việc mất mát ra đi. Nó là sự điều chỉnh việc mất mà tạo nên vấn đề. Vấn đề của người đi buôn thì được trình bày là đủ để đóng lại một tài khoản tại một điểm mất, mặc dù chúng thì rõ ràng rằng giữ lấy mất mát thì là không có lý trí. Tự điều chỉnh hành vi cũng trình bày trong việc mất cổ tức, đã được đề cập trong những phần trước. Ví dụ, nhà đầu tư, đặc biệt những người về hưu, người sống nhờ vào quỹ lương hưu, lo lắng rằng về việc chi đi số tiền quá nhanh bằng cái cách mà cạn kiệt tài sản sinh sống. Họ lo sợ về việc mất đi khả năng tự điều chỉnh, nơi họ bị thúc giục có thể dẫn tới việc chi tiêu quá mức.

1.3.5. Hối tiếc


Có một xu hướng khiến con người cảm thấy hối tiếc khi vi phạm lỗi, thậm chí những lỗi nhỏ. Đó làm một cảm giác hối hận về một quyết định đã gây ra những kết quả xấu. Nếu một người không muốn phải hối hận thì anh ta phải thay đổi hành vi của mình theo cách mà đôi khi trong vài trường hợp thì sẽ không hợp lý. Thuyết hối tiếc có thể giải thích được sự thật rằng các nhà đầu tư trì hoãn bán những cổ phiếu đang giảm giá trong khi đó lại tăng tốc việc bán những cổ phiếu lên giá (Shefrin và Statman, 1985). Lý thuyết này lý giải rằng các nhà đầu tư tránh việc bán những cổ phiếu đang giảm giá để không bị mắc sai lầm và theo cách này họ sẽ không cảm thấy hối tiếc. Họ bán nhanh các cổ phiếu đang lên giá để không cảm thấy hối tiếc nếu sau đó cổ phiếu bị giảm giá. Hành vi này được dẫn chứng bằng cách sử dụng cái dữ liệu thương mại của Ferris, Haugen và Makhija (1988) và Odean (1996).

1.3.6. Phương pháp giải quyết vấn đề của nhà đầu tư dựa vào kinh nghiệm (Heuristics)

Từ điển định nghĩa từ “Heuristics” liên quan tới một quá trình trong đó mọi người tìm ra những thứ cho chính họ bằng phép thử hay lỗi. Phép thử hay lỗi dẫn con người phát triển “luật ngón tay cái”, nhưng quá trình này thường dẫn tới những lỗi khác (Shefrin, 2000). Heuristics có thể cũng được định nghĩa như là “sử dụng kinh nghiệm và nỗ lực thực tế để đưa ra quyết định” bởi vì sự thật rằng ngày càng có nhiều thông tin đang lan truyền nhanh và rất nhanh, cuộc sống của những người ra quyết định dựa vào thị trường tài chính thì ngày càng phức tạp. Điều này ngụ ý việc sử dụng Heuristics mà thường là một quá trình không thể tránh khỏi, nhưng luôn luôn hiệu quả. Heuristics có lẽ giúp giải thích tại sao thị trường thỉnh thoảng hành xử trong cách vô ý thức, mà đối lập với mô hình lý thuyết thị trường hiệu quả. Hành vi bầy đàn là một cách của Heuristics nơi những cá nhân được dẫn tới hình thành thành một đám đông, hiện diện trong môi trường quyết định đầu tư, theo sau bởi quyết định của họ. Tuy nhiên, khuynh hướng bầy đàn, cùng với Heuristics, có lẽ dẫn con người lạc hướng theo một khuynh hướng của thị trường. Quá tự tin là một khuynh hướng mà mọi người cố gắng phân loại sự kiện như là cơ bản hay đại diện của một loại được biết rõ.Trong thị trường chứng khoán có lẽ nhà đầu tư phân loại chứng khoán như là chứng khoán phát triển dựa vào lịch sử của phát triển lợi nhuận, bỏ qua khả năng có rất ít công ty có thể phát triển mãi mãi. Cuối cùng, bí ẩn được trình bày trong phần 1.3.7 liên quan tới quá trình ra quyết định nơi đám đông thì quan trọng và nơi những quyết định có lẽ bị ảnh hưởng bởi sự đề nghị.

1.3.7. Hành vi bầy đàn

Một quan sát cơ bản về xã hội con người trong đó con người có mối liên hệ giao tiếp với người khác có cùng suy nghĩ. Nó thì quan trọng để hiểu nguồn gốc của sự suy nghĩ tương tự nhau, để chúng ta có thể đánh giá tính hợp lý của lý thuyết dao động đầu cơ mà gán cho việc làm thay đổi giá cả do những suy nghĩ sai lệch. Một phần lí do của việc phán đoán của con người thì giống nhau tại những thời điểm giống nhau là họ đang có những phản ứng với thông tin giống nhau. Ảnh hưởng xã hội có một tác động khổng lồ lên phán đoán cá nhân. Khi con người đối đầu với phán đoán của một nhóm lớn, họ có xu hướng thay đổi những câu trả lời của họ. Họ đơn giản nghĩ rằng tất cả những người khác có thể không sai. Họ phản ứng với thông tin mà nhóm lớn đã có phán đoán khác với họ. Đây là hành vi có ý thức. Trong cuộc sống mỗi ngày, chúng ta học rằng khi một nhóm lớn nhất trí trong phán đoán họ thì chắc chắn đúng (Shiller, 2000).

Hành vi bầy đàn có lẽ được nhận diện trên hầu hết thị trường tài chính trong một hoàn cảnh tâm lý. Hành vi bầy đàn có thể đóng một vai trò trong việc tạo ra đầu cơ bong bóng bởi vì có một xu hướng để quan sát người thắng rất gần, đặc biệt biểu hiện tốt lặp đi lặp lại vài lần. Nó có vẻ hợp lý khi làm sự phân biệt giữa tự nguyện và bắt buộc hành vi bầy đàn. Nhiều người chơi trên thị trường tài chính có lẽ nghĩ rằng tiền tệ hay chứng khoán không được định giá đúng, nhưng họ kìm lại hành động trái ngược. Những người này có lẽ đơn giản cảm thấy rằng nó vô nghĩa khi đấu tranh với bầy đàn. Đây là một ví dụ của hành vi bầy đàn vững chắc. Họ theo sau đàn không tự nguyện nhưng để tránh bị giẫm chân nên vì thế họ gắn chặt theo bầy đàn.

Thậm chí có những người có lý trí có thể tham gia vào bầy đàn khi họ quan tâm tới phán đoán của người khác, và thậm chí họ biết rằng người khác cũng đang hành xử trong bầy đàn. Hành vi, mặc dù theo lý trí cá nhân, sản xuất ra nhóm hành vi mà không có lý trí hay gây ra sự dao động trong thị trường. Lý thuyết này cũng chỉ ra rằng những nhà đầu tư trong ngắn hạn gây ảnh hưởng nhiều lên giá chứng khoán hơn những nhà đầu tư dài hạn. Những nhà đầu tư không tiếp cận với thông tin bên trong, hành xử vô ý thức theo tiếng ồn như thể họ đang nắm bắt thông tin.

Một yếu tố quan trọng nữa của bầy đàn là truyền miệng. Người ta, nói chung, tin tưởng bạn bè, họ hàng và đồng nghiệp hơn báo chí và truyền hình. Phương tiện truyền thông truyền thống, tivi, và radio có khả năng truyền thông tin, nhưng khả năng của chúng để tạo ra hành vi chủ động thì vẫn còn hạn chế. Nói với người khác và các loại giao tiếp khác nữa là trong số những kết nối xã hội quan trọng mà con người có. Vì thế thông tin về cơ hội mua sẽ lan truyền nhanh chóng. Trong một nghiên cứu, những nhà đầu tư cá nhân được hỏi là cái gì cuốn hút họ đầu tiên khi họ đầu tư vào một công ty. Chỉ 6% trả lời là báo chí và thời gian. Thậm chí nếu một người nào đó đọc nhiều, sự quan tâm và hành động cũng dường như bị kích thích bởi sự giao tiếp lẫn nhau.

Khái niệm về mức độ của giá thị trường phản ánh kết quả của việc đánh giá của nhà đầu tư cá nhân và kết quả là giá trị thật sự của thị trường thì không chính xác. Mọi người có thể thay vì chọn một cách có ý thức không tốn thời gian và nỗ lực trong việc thực hiện những phán đoán của họ về thị trường và vì thế không sử dụng bất kỳ tác động độc lập nào trên thị trường, điều này có thể dẫn tới hành vi bầy đàn và hành xử giống như nguồn thông tin để định giá trên hay dưới của thị trường chứng khoán.

1.3.8. Quá tự tin và phản ứng thái quá hay bi quan

Mọi người có vẻ thái quá tài năng của họ và phán đoán tính hợp lý của kết quả xấu thông qua những gì họ không thể điều chỉnh được gọi là sự quá tự tin. Sự kết hợp của quá tự tin và bi quan gây cho con người đánh giá thái quá mức độ tin cậy về kiến thức của họ, đánh giá quá thấp rủi ro và đánh giá quá cao khả năng điều chỉnh những sự kiện, mà dẫn tới khối lượng giao dịch lớn và gây ra đầu cơ bong bóng. Sự cả tin thái quá mà một người có càng lớn, rủi ro càng cao. Điều này áp dụng, đặc biệt, để xác định nơi người ta không được thông báo đầy đủ. Tự điều chỉnh luôn luôn không gắn với kiến thức thật sự. Một điều ngạc nhiên là có mối quan hệ giữa quá cả tin và thỏa mãn.

De Bondt and Thaler (1985) chỉ ra rằng người ta có xu hướng hành động thái quá đối với sự kiện tin tức gây xúc động và không mong đợi. Nhất trí với phán đoán của lý thuyết hành động thái quá, danh mục của những người bị thua lỗ trước thì tìm thấy tốt hơn những người thắng trước. Quá cả tin dường như liên quan tới vài hiện tượng tâm lý. Ross (1987) tranh cãi rằng quá nhiều sự cả tin thì liên quan tới khó khăn lớn hơn trong việc tạo ra khoản đủ đối với sự không chắc chắn trong quan điểm của chính bản thân người đó.

Nghiên cứu gần đây cho thấy phản ứng ít của giá chứng khoán đối với tin tức như là thông báo lợi nhuận, và phản ứng thái quá của giá chứng khoán đối với hàng loạt tin tốt hay xấu. Bằng chứng của hành động ít phản ứng chỉ ra rằng thông qua giai đoạn một tới mười hai tháng, giá chứng khoán ít phản ứng với thông tin. Kết quả là, thông tin kết hợp chậm trong giá, mà có xu hướng trình bày mối liên hệ dương thông qua giai đoạn này. Chúng ta có thể nói rằng tin tức tốt hiện thời có ảnh hưởng lớn trong việc dự đoán lợi nhuận dương trong tương lai. Bằng chứng hành vi thái quá chỉ ra rằng qua giai đoạn dài hạn từ 3 đến 5 năm, giá chứng khoán phản ứng thái quá đối với mẫu liên quan của việc chỉ ra thông tin trong cách tương tự. Thật vậy, chứng khoán mà ghi nhận thông tin tốt có xu hướng được định giá quá cao và có tỷ suất lợi nhuận trung bình thấp sau đó. Bằng chứng phản ứng chậm nói riêng thì liên quan tới tính bảo thủ. Tính bảo thủ liên quan tới hiện tượng mà theo đó con người nghi ngờ thông tin mới và đưa quá nhiều khả năng trước đó của sự kiện trong tình huống được cho trước. Edwards (1968) kết luận rằng “nó lấy bất kỳ từ hai đến năm quan sát để làm một quan sát có giá trị trong việc tạo ra chủ thể để thay đổi ý kiến của anh ta”. Theo nguyên tắc này, con người chậm thay đổi ý kiến của họ. Đối với lí do này, nó mất một ít thời gian trước khi nhà đầu tư bắt đầu kết luận rằng một xu hướng sẽ tiếp tục, chẳng hạn như giá tăng gắn với đầu cơ bong bóng. Thêm vào đó, phản ứng ít hay thái quá là một trong những nguyên nhân của xu hướng, động lực và theo thời thượng.

Rõ ràng những nhà đầu tư cảm thấy rằng họ có lí do đầu cơ để kinh doanh thường xuyên (trade), và rõ ràng điều này phải làm với một xu hướng cho mỗi cá nhân để có niềm tin rằng anh ta hay cô ta nhận nhiều hơn niềm tin của những người khác(Shiller, 1998). Nó như thể là hầu hết mọi người nghĩ rằng họ đang ở trên mức trung bình. Shiller (1987) quan sát trong một cuộc khảo sát biến động của thị trường, một sự tự tin cao đáng ngạc nhiên giữa những nhà đầu tư trong cảm giác trực giác về hướng mà thị trường sẽ đi sau sự sụp đổ. Vì thế sự thái quá sẽ giải thích hành động thái quá của thị trường cùng với sự biến động thái quá và giá tài sản đầu cơ. Nó giải thích lí do tại sao những nhà đầu tư chuyên nghiệp giữ những danh mục được quản trị năng động với dự định có thể chọn ra những cái thắng và tại sao quỹ lương hưu thuê những nhà quản lý năng động. Khối lượng giao dịch lớn và việc theo đuổi chiến lược đầu tư chủ động dường như không nhất trí với kiến thức chung của hành vi của một tác nhân kinh tế.

1.3.9. Sự tham khảo (Anchoring)

Sự tham khảo là quá trình ra quyết định mà những định lượng được yêu cầu và là nơi mà những định lượng này bị ảnh hưởng bởi các lời khuyên. Trong tâm trí mỗi người, đề có vài điểm tham chiếu (điểm neo), ví dụ là giá cổ phiếu trước đây. Khi có được các thông tin mới họ sẽ điều chỉnh điểm tham chiếu cũ này một cách bị động đến nơi mà thông tin mới yêu cầu. Trong sự thiếu vắng của thông tin tốt hơn, giá chứng khoán quá khứ có lẽ là yếu tố quyết định quan trọng của giá chứng khóan hôm nay. Vì thế, Anchor (điểm thao khảo) là giá được ghi nhớ gần đây nhất. Xu hướng của nhà đầu tư là sử dụng điểm thao khảo này để thúc ép sự giống nhau của giá chứng khoán từ một ngày tới ngày kế tiếp. Đối với những chứng khoán riêng lẻ, xu hướng thay đổi giá có lẽ gắn với việc tham khảo từ giá chứng khoán khác, và tỉ lệ P/E có lẽ được tham khảo từ mức độ P/E của những công ty khác. Loại bắt chước này có lẽ giải thích tại sao giá chứng khoán thay đổi cùng chiều, và tại sao chỉ số giá dao động như thế - tại sao những chứng khoán ngang trung bình có sẵn trong việc xây dựng chỉ số chứng khoán không ngăn cản mạnh mẽ sự bất ổn của thị trường. Nó cũng giải thích tại sao những công ty khác ngành nhưng được dẫn đầu trong cùng quốc gia có xu hướng dao động cùng chiều hơn những chứng khoán cùng ngành nhưng được dẫn dắt ở những quốc gia khác nhau, điều này trái với mong đợi của một người cho rằng ngành sẽ định nghĩa cơ bản của công ty tốt hơn vị trí của công ty mẹ của nó.

Thuật ngữ Anchoring xuất hiện liên quan tới “giá kết dính” mà thường được nói bởi nhà kinh tế vĩ mô. Ngay khi giá quá khứ được sử dụng như là lời đề nghị tham khảo cho giá hiện tại, giá mới sẽ có xu hướng gần với giá quá khứ. Giá trị của hàng hóa càng không rõ ràng, công cụ tham khảo sẽ càng quan trọng. Sự tham khảo (Anchoring) sẽ là công cụ quyết định giá quan trọng.(Shiller,1998)

2. Lý thuyết hành vi đầu cơ (Đầu cơ bong bóng)

Đầu cơ bong bóng có thể được mô tả như là một tình huống trong đó giá cao tạm thời được giữ vững bởi sự nhiệt tình của nhà đầu tư hơn là sự dự đoán nhất quán của giá trị thực. Sự cần thiết của đầu cơ bong bóng là một loại của phản ứng, từ việc giá cao tới sự nhiệt tình của nhà đầu tư tăng, tới nhu cầu tăng, và vì thế giá sau sẽ tăng. Theo viễn cảnh mong đợi hợp lý của lý thuyết phản ứng, sự phản hồi xảy ra bởi vì giá trước tăng tạo ra sự mong đợi giá sau sẽ tăng. Theo mô hình thay thế, sự phản hồi xảy ra như là kết quả niềm tin của nhà đầu tư tăng để phản hồi với sự tăng của giá quá khứ. Bong bóng đầu cơ không thể chống đỡ một cách không xác định. Giá không thể tăng mãi mãi và khi sự tăng giá kết thúc, nhu cầu mà khi giá tăng tạo ra kết thúc. Một sự phản hồi giảm có lẽ thay thế sự phản hồi tăng.

Đầu cơ bong bóng tài chính là những ví dụ cơ bản của thị trường mà không luôn luôn hoạt động một cách hiệu quả. Mặc dù bằng chứng rõ ràng rằng thị trường chứng khoán thì hiệu quả cao, điều này có nghĩa là một người không thể kiếm được lợi nhuận vượt trội bằng cách giao dịch mua bán theo thông tin có sẵn trên thị trường, có nhiều nghiên cứu về lợi nhuận bất thường dài hạn trên thị trường chứng khoán mà dường như gắn với lý thuyết thị trường hiệu quả.

2.1. Các tiền nghiên cứu

Nhiều nghiên cứu đã được tiến hành nhằm giải thích bong bóng đầu cơ. Liu và Song (2001) cho rằng các nhà phân tích tài chính nói chung đã quá lạc quan về chứng khoán IT trước sự sụp đổ của thị trường vào tháng 3 năm 2000. Họ cũng cho rằng lợi nhuận dự kiến trước vụ sụp đổ thì kém hợp lý và vì thế hành vi hành vi của các nhà phân tích chịu một phần trách nhiệm cho hiện tượng bong bóng đầu cơ. Một nghiên cứu (Cooper et al., 2001) cho thấy một mẫu gồm 95 hãng rất nhỏ đã thay đổi tên cũng như tên miền Internet của họ, lãi suất bất thường bình quân trong ngày quanh vụ việc là 74%. Họ tranh cãi rằng bằng chứng của họ phù hợp với sự bất thường của các nhà đầu tư (các nhà đầu tư dường như háo hức để tham gia vào thị trường Internet bằng mọi giá. Hand (2000) cho thấy rằng giá trị của chứng khoán IT có quan hệ mật thiết với biến “cung và cầu” như là một dạng của lãi suất ngắn hạn, phần trăm của chứng khoán được giữ bởi các tổ chức, và trôi nổi ngoài thị trường hay số cổ phần không được nắm giữ bởi nội bộ công ty. Ông diễn giải chứng cứ của mình để hỗ trợ thêm cho tuyên bố giá cổ phiếu IT có thể không được xác định một cách hợp lý. Một nghiên cứu khác (McNichols et al., 1997) chỉ ra rằng các nhà phân tích có xu hướng thêm vào các hãng mà họ thích và loại ra các hãng mà họ không thích trong danh sách các công ty. Họ diễn giải các chứng cứ (các mẫu) của họ bằng cách phân tích như là một lời lý giải thiên vị cho hiện tượng quan sát thông thường mà qua đó các lợi nhuận dự báo thường rất lạc quan.

Shiller (1987) nghiên cứu hành vi của các nhà đầu tư trong mối liên hệ với vụ sụp đổ thị trường chứng khoán vào tháng 10 năm 1987. Bản khảo sát của ông cho thấy trong số những người khác thì nhiều nhà đầu tư nghĩ rằng họ có thể tiên đoán thị trường và rằng cả người mua và người bán đều nghĩ rằng thị trường đã vượt giá trị trước vụ sụp đổ. Hầu hết các nhà đầu tư cho rằng vụ sụ đổ xảy ra là do tâm lý của các nhà đầu tư khác. Fama (1997) tranh luận chống lại các chứng cứ mới về những bất thường của thị trường. Ông tuyên bố rằng những bất thường này là những kết quả cơ hội và rằng sự phản ứng thái quá rõ ràng về thông tin giá cả chứng khoán cũng bình thường như phản ứng bị động, nó phù hợp với giả thuyết thị trường hiệu quả.

2.2. Những yếu tố giúp giải thích bong bóng đầu cơ

Có nhiều nhân tố có thể giúp giải thích bong bóng đầu cơ. Yếu tố cấu trúc (xây dựng) như là công nghệ và địa lý, tuy nằm ngoài thị trường nhưng lại định hình hành vi thị trường. Yếu tố văn hóa cũng bao gồm những nhân tố tiếp sức thêm cho bong bóng đầu cơ, như là các hiện tượng kinh tế mới. Cuối cùng, yếu tố tâm lý đóng góp vào việc định rõ và giải thích bong bóng đầu cơ. Những yếu tố này được minh họa trong 3 danh mục sau:

Yếu tố cấu trúc bao gồm sự xuất hiện những vấn đề mới như công nghệ thông tin hay sự mở rộng trong phương tiện báo cáo của tin tức kinh doanh, sự tăng trưởng của các quỹ cộng đồng và sự xuất hiện của lợi tức quỹ hưu (Premiepensionsvalet) hay là những vấn đề liên quan đến kinh tế như là lạm phát và hiệu ứng của ảo tưởng tiền (Effects of Money Illusion) giảm.

Yếu tố văn hóa là truyền thông đa phương tiện hay sự xuất hiện vấn đề kinh tế mới và mọi người đã biết quan tâm của đến thị trường.

Yếu tố tâm lý phản ánh cảm xúc và kinh nghiệm bản thân của con người.

3. Điều kiện để lý thuyết tài chính hành vi tồn tại

Các mô hình được đề xuất bởi lý thuyết tài chính hành vi sẽ có thể đúng nếu trên thị trường tồn tại một trong ba điều kiện cơ bản sau. Nếu cả ba đều tồn tại, lý thuyết tài chính hành vi dự báo rằng việc định giá sai không những là tồn tại, mà còn là rất đáng kể (lớn hoặc đến mức nghiêm trọng) và kéo dài. Ba điều kiện đó bao gồm:

-Tồn tại hành vi không hợp lý.

-Hành vi bất hợp lý mang tính hệ thống.

-Giới hạn khả năng kinh doanh chênh lệch giá trên thị trường tài chính.

3.1. Hành vi không hợp lý

Các nhà đầu tư sẽ có hành vi không hợp lý khi họ không phân tích và xử lý “đúng” những thông tin mà họ có (và thị trường cung cấp), từ đó dẫn đến những kỳ vọng lệch lạc về tương lai của cổ phiếu mà họ đầu tư vào. Ngoài ra, trong một số trường hợp, dựa trên kinh nghiệm hay nhận thức sẵn có, họ cũng mắc phải những “lệch lạc trong nhận thức” (cognitive biases). Những nghiên cứu về các hành vi không hợp lý tiêu biểu trong thị trường tài chính là kết hợp giữa tâm lý học, mà chủ yếu là trường phái tâm lý nhận thức (cognitive psychology) với trường phái tâm lý hành vi (behavioral psychology).

3.2. Hành vi không hợp lý mang tính hệ thống

Nếu chỉ một nhà đầu tư đơn lẻ có hành vi không hợp lý, thì ảnh hưởng của giao dịch của nhà đầu tư này lên giá cổ phiếu trên thị trường là không đáng kể (cho dù là một tổ chức đầu tư lớn thì ảnh hưởng cũng rất hạn chế nếu chỉ đơn độc một mình). Chỉ khi hành vi không hợp lý là mang tính hệ thống (nghĩa là một nhóm nhiều nhà đầu tư cùng có một hành vi không hợp lý như nhau) thì khi ấy việc định giá sai sẽ xuất hiện và có thể bắt đầu kéo dài. Lý thuyết tài chính hành vi cho rằng tính lệch lạc (bất hợp lý) trong hành vi là khá phổ biến đối với nhiều nhà đầu tư, và do đó, nó tạo thành một dạng như chúng ta thường gọi là “hiệu ứng bầy đàn”, khiến cho giá một số cổ phiếu không phản ánh giá trị “thực” (hay “hợp lý”) của chúng. Như vậy, “hiệu ứng bầy đàn” là không tốt cho thị trường trong trường hợp chúng ta xem hiệu ứng bầy đàn là tất cả đều hành động theo một mẫu hình hành vi lệch lạc, không hợp lý, thấy ai làm sao thì làm vậy.

3.3. Giới hạn khả năng kinh doanh chênh lệch giá trên thị trường tài chính

Lý thuyết thị trường hiệu quả tin rằng nếu tồn tại định giá sai thì sẽ tồn tại cơ hội để kinh doanh chênh lệch giá thu lợi nhuận, và chính hành vi kinh doanh chênh lệch giá sẽ điều chỉnh giá trên thị trường về cân bằng. Nhưng nếu tồn tại định giá sai, mà lại không thể thực hiện kinh doanh chênh lệch giá để tận dụng các khoản lợi nhuận này thì như thế nào? Và tại sao lại không thể thực hiện kinh doanh chênh lệch giá khi có định giá sai?

Một giải thích được chấp nhận rộng rãi trong trường phái tài chính hành vi là có 2 dạng định giá sai: một dạng là thường xuyên xảy ra và có thể kinh doanh chênh lệch giá được, một dạng là không thường xảy ra, kéo dài và không thể kinh doanh chênh lệch giá được (nói một cách khác, khó mà xác định được khi nào mức định giá sai đã đạt tới giới hạn trên hay dưới và điều chỉnh lại). Nếu tham gia “chỉnh sửa” kiểu định giá sai dạng 2 thì rất dễ rơi vào trạng thái “tiền mất, tật mang”, mà điển hình là bài học nổi tiếng của LTCM kinh doanh chênh lệch giá của Royal Duch và Shell và bị thua lỗ, nhưng ngay sau khi họ thua lỗ không bao lâu thì giá 2 cổ phiếu này điều chỉnh lại đúng như dự đoán của họ! Đây là ví dụ cho thấy thực tế định giá sai có thể kéo dài rất lâu, và kiểu nhà đầu tư hợp lý như LTCM (được quản lý bởi những người đoạt giải Nobel và rất thành công trong 4 năm trước thương vụ này) tham gia sửa chữa sai lầm này thì sẽ thất bại.

Barberis và Thales (2003) chỉ ra rằng kinh doanh chênh lệch giá không thể xảy ra vì có những tài sản về lý thuyết là có tính thay thế lẫn nhau hoàn hảo và có thể kinh doanh chênh lệch giá 2 tài sản đó, nhưng thực tế thì không như vậy, do đó tạo ra rủi ro tăng thêm cho hoạt động kinh doanh chênh lệch giá (vốn được xem là rủi ro thấp đến mức phi rủi ro). Ngoài ra, chi phí thực hiện các chiến lược hưởng chênh lệch giá và sự tồn tại của các giao dịch của những nhà đầu tư không hợp lý (gọi là noise trading) cũng ngăn cản điều này. Chính vì vậy, chúng ta đã từng thấy trong lịch sử nhiều vụ bong bóng giá ở Nhật (thập niên 1980), Đài Loan (1990), cổ phiếu công nghệ truyền thông của Mỹ (1999-2000), rồi gần đây là chứng khoán Trung Quốc và Việt Nam cũng bị xem là “quá nóng”. Tuy nhiên, rõ ràng không hề có những điều chỉnh tức thời như người ta kỳ vọng, mà những vụ bong bóng này kéo dài nhiều năm (nhất là ở các nước châu Á đang phát triển). Đây là dấu hiệu của giới hạn khả năng kinh doanh chênh lệch giá.

4. Dowload mẫu luận văn tài chính hành vi

Nếu bạn muốn xem toàn bộ bài mẫu luận văn này, bạn có thể tải về tại đây.
Previous
Next Post »